Đỗ Phủ tự nói về mình “hạ bút như có thần”. Các thi sĩ trong giây phút xuất thần thường để lại cho đời những câu thơ bất hủ.  Những giây phút xuất thần ấy rất hiếm hoi và khá bất ngờ. Trường hợp Nguyễn Trọng Tạo làm hai câu thơ về Huế là một ví dụ.

Nghe nói trong một cuộc rượu tại nhà Nguyễn Khắc Thạch, lúc đã ngà ngà hơi men, thi sĩ buột miệng đọc:

Sông Hương hoá rượu ta đến uống

Ta tỉnh, đền đài ngả nghiêng say.

Hôm sau, có người đọc lại hai câu thơ trên, Nguyễn Trọng Tạo gật gù khen mà không nhớ đó là thơ mình. Trước khi in ở tạp chí Cửa Việt và đưa vào tập Đồng dao cho người lớn, hai câu thơ trên đã có một cuộc sống riêng. Nó được xuất bản bằng miệng và lưu truyền khá rộng rãi.

Tôi đã đọc hàng trăm bài thơ viết về Huế nhưng hiếm thấy bài nào cô đọng như hai câu thơ này của Nguyễn Trọng Tạo. Nhà thơ tài cao, chí lớn Cao Bá Quát tả sông Hương như thanh kiếm dựng giữa trời xanh. Thi sĩ đa tình, lãng mạn Nguyễn Bính thì ví sông Hương như mái tóc buông hờ của cung nga. Còn Nguyễn Trọng Tạo - người ham chơi (theo cách gọi vui của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) thì nhận ra “sông Hương hoá rượu”. Trong Bình Ngô đại cáo, có đoạn Nguyễn Trãi viết:

Tướng sĩ một lòng phụ tử

Hoà nước sông

              chén rượu ngọt ngào

Hoà rượu vào nước sông chia nhau uống là một cách nói thể hiện sự gắn bó, trên dưới đồng lòng của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh. Sông Hương hoá rượu cũng là một cách nói khác của Nguyễn Trọng Tạo để ca ngợi vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cảnh và người xứ Huế. Ở đây, không phải hoà rượu vào nước sông mà nước sông tự nó đã là một thứ rượu. Trên đất nước ta có hàng trăm dòng sông nhưng không phải dòng sông nào cũng hoá rượu như sông Hương. Sông Hương có chất men đặc biệt nên đã làm say lòng bao nhiêu du khách. Nguyễn Trọng Tạo đã đến Huế và đã từng nếm thử chất men ấy. Thi sĩ đã say bởi thứ rượu đặc biệt mà cô gái Huế rót mời. Làm say một người “ham chơi” như Nguyễn Trọng Tạo đâu phải dễ. Nhưng lần này thì anh say thật, say đến mức cả đền đài, lăng tẩm đều nghiêng ngả trước mặt anh. Chỉ có điều người say ít ai chịu nhận mình say. Thi sĩ cũng vậy, anh nói “Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say” cũng có nghĩa là anh gián tiếp thú nhận mình đã say cảnh, người xứ Huế. Nguyễn Trọng Tạo bộc lộ: “Sao cứ ước một người yêu ở đó/ Để suốt đời quê ngoại cũng quê hương”.

Điều ước ấy sau này đã trở thành hiện thực có lẽ một phần cũng do anh đã lỡ nếm cái chất men đặc biệt ấy như ăn phải quả cấm ở vườn địa đàng. “Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say” là cách nói chống chế rất thông minh.

Cách nói chống chế này khiến tôi nhớ đến giai thoại về Hồ Xuân Hương khi bị ngã: “Giơ tay với thử trời cao thấp/ Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài!”. Còn Nguyễn Trọng Tạo đang say lại đổ cho đền đài say cũng nhanh nhạy và sắc sảo không kém. Anh nói tỉnh nhưng thực chất là say. Ta say là chuyện bình thường. Đền đài say mới là điều kỳ lạ! Một chút kiêu ngạo rất đáng yêu của thi sĩ. Mà sao đền đài không “say” nếu thi sĩ là một bậc tài hoa? Xưa nay đâu chỉ tài tử say mê giai nhân, giai nhân cũng rất ngưỡng mộ và say mê tài tử.

Tôi nhớ mãi ấn tượng ban đầu khi nghe Nguyễn Trọng Tạo đọc “Sông Hương hoá rượu...”. Thời ấy, anh chưa kết với Huế như bây giờ. Được tin anh vào Huế, tôi với Hải Kỳ săn lùng anh  khắp chốn. Khoảng hơn chín giờ đêm chúng tôi mới “bắt” được anh đang ngà ngà ở nhà Ngô Minh. Anh rót rượu cho hai chúng tôi và gật gù:

Sông Hương hoá rượu ta đến uống

Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say

Bằng trực giác tôi cảm ngay cái hay của hai câu thơ xuất thần này. Từ đó trong các cuộc rượu, khi đã chếnh choáng hơi men tôi lại gật gù “Sông Hương hoá rượu...”. Nếu một số câu thơ của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bính... đã được dân gian hoá thì “Sông Hương hoá rượu” cũng được cái may mắn đó. Tôi biết nhiều người thuộc bài thơ “Sông Hương hoá rượu” mà không biết tác giả. Thơ khắc vào bia đá, bia đá có thể mòn. Thơ khắc vào trí nhớ và lưu truyền bằng miệng chắc chắn sẽ sống mãi với thời gian. Tôi tin “Sông Hương hoá rượu” của Nguyễn Trọng Tạo sẽ được lưu giữ trong tâm hồn những người yêu thơ, yêu Huế .

Mai Văn Hoan