/ 
 
Tặng:  
- Hà Thúc Minh - PGS Việt Nam, GS Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội Malaixia
- Kim Thư, tác giả Nước mắt và nụ cười để lại cho nhiều bạn đọc ấn tượng không quên
         
Tóm tắt: Nội dung chính của tiểu luận này bàn về những sự phê phán Khổng giáo một cách bất cập đến mức rất phi lý tại đời sống nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam từ bảy, tám chục năm trước đến nay. Đó là: 1. Sự phê phán võ đoán Khổng giáo chủ yếu bàn và cường điệu vai trò của đạo đức; 2. Chỉ trích thiếu luận chứng Khổng Tử tự phụ, trọng quan, trung quân mù quáng; 3. Phản bác không có bằng cớ Khổng giáo khinh dân và lao động chân tay; 4. Kết tội Khổng giáo sỉ nhục phụ nữ một cách vô căn cứ; 5. Quả quyết tùy tiện Khổng giáo là học thuyết bảo thủ. Tác giả tiểu luận này thông qua phân tích, chứng minh đã đi đến nhận định những sự phê phán nói trên là phê phán cái không có trong đối tượng phê phán.
           
 1. Mở đầu
 
Trong đời sống khoa học xã hội Việt Nam đã bộc lộ một sự bất cập đến mức độ rất phi lý là, khi nghiên cứu Khổng giáo, nhiều tác gia có tên tuổi, tầm cỡ từng phê phán cái không có trong đó rồi gán ghép cái không có ấy cho Khổng giáo và chỉ trích hết sức kịch liệt học thuyết này.
 
2. Phê phán võ đoán Khổng giáo chủ yếu bàn và cường điệu vai trò của đạo đức
 
Chẳng hạn, giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét mang tính phê phán Khổng giáo “chủ yếu nói về đạo đức. Nhấn mạnh đạo đức, thiên về đạo đức, cường điệu tác dụng của đạo đức trong xã hội và lịch sử”... “lấy đạo đức làm tiêu chuẩn, chủ yếu để đánh giá hơn, kém của con người” [11, tr.133-134]. Nói và viết như thế là gần như ngược lại với nội dung Khổng giáo.
Để giúp độc giả hiểu rõ thêm và đồng thời coi xét kết quả tiếp cận Khổng giáo của tác giả tiểu luận này, tôi xin sơ bộ điểm qua danh mục nội dung đa dạng, phong phú của học thuyết ấy không chỉ mang tính lịch sử, mà còn có giá trị thời sự đối với Việt Nam cùng tất cả các nước khác trên toàn thế giới đã và đang trong quá trình xây dựng, từng bước phát triển kinh tế tri thức - nền kinh tế ưu việt, hiện đại nhất của nhân loại cho đến hiện nay, như sau:
1. Bàn về đạo đức;
2. Học thuyết chính trị;
3. Mối quan hệ giữa vua với các quan, bề tôi và dân chúng;
4. Phẩm chất người quân tử;
5. Dấu hiệu của kẻ sĩ;
6. Tôn trọng, bênh vực và bảo vệ phụ nữ;
7. Việc học tập và giảng dạy;
8. Quan tâm làm kinh tế;
9. Về quân sự và chiến tranh;
10. Vai trò của pháp luật;
11. Thuyết tính thiện;
12. Thuyết trung dung;
13. Bàn về lịch sử;
14. Tư tưởng trọng dân;
15. Nhận thức luận;
16. Tính lịch sử cụ thể, nội dung và hình thức;
17. Vấn đề con người, gia đình và xã hội;
18. Vị trí và quan hệ của đức, tài, trí, dũng;
19. Văn học nghệ thuật;
20. Văn hóa ứng xử;
21. Hành động đạt hiệu quả của con người;
22. Về đổi mới, sáng tạo, chống bảo thủ;
23. Chủ trương tiết kiệm, chống xa hoa lãng phí;
24. Phê phán thói đời xu nịnh, giả tạo, sĩ diện;
25. Những quan điểm siêu hình, máy móc, sai lầm trong Khổng giáo.
Khổng giáo bao hàm hàng chục vấn đề trên đây, đó là một học thuyết có nội dung phong phú, đa dạng, khá toàn diện, chứ không thể là chủ yếu nói về đạo đức, nhấn mạnh đạo đức, cường điệu tác dụng của đạo đức.
Khi hầu chuyện vua Lỗ về việc trị nước, Khổng Tử thưa: “Người lãnh đạo dân chúng có tài đức thì đất nước mau hưng thịnh” [2, tr.73]. Tại đây theo Khổng Tử, đạo đức ở vị trí thứ yếu sau tài năng. Khổng Tử thưa chuyện tiếp nữa với vua Lỗ về 3 đức tính để thực hiện 5 mối quan hệ (vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè) là “trí, dũng, nhân” [2, tr.74]. Đến đây, đạo đức (nhân) chỉ đứng ở vị trí cuối cùng, sau trí tuệ và lòng dũng cảm. Khổng Tử nói nghiêm túc trước đấng quân vương như thế và đã được học trò của ông ghi lại rõ ràng đầy đủ. Điều ấy chứng tỏ Khổng giáo và tác giả của nó không thiên về đạo đức, không cường điệu tác dụng của đạo đức trong xã hội và lịch sử như giáo sư, nhà phê phán của chúng ta đã chỉ trích kết tội quá ư võ đoán.
Nói nho giáo Khổng Mạnh “lấy đạo đức làm tiêu chuẩn, chủ yếu để đánh giá hơn, kém của con người” cũng là không đúng với chủ trương của thầy trò họ Khổng. Bởi vì chính Khổng Tử đã chủ trương, chú trọng: “Nhìn kỹ cách người ta làm, xét người ta làm vì cái gì, rồi xét kỹ người ta có vui lòng mà làm hay không. Như vậy người ta không có cái gì có thể giấu được” [2, tr.130]. Qua đây giới nghiên cứu và độc giả nói chung được biết, Khổng Tử cho rằng, công việc và hành động của con người bộc lộ tư tưởng, tình cảm, phẩm chất của họ và muốn đánh giá con người hơn, kém, xấu, tốt như thế nào thì phải dựa vào công việc, hành động của họ. Tác giả Khổng giáo đâu có lấy đạo đức làm tiêu chuẩn như giáo sư phê phán đã viết và được tác giả tiểu luận này dẫn ra ở trên.
Trong lịch sử cổ đại Trung Quốc có ghi rõ sự kiện Tăng Tử làm nghề dạy học ở quê hương của ông. Một lần giặc nước Việt đến quấy phá, tăng Tử bỏ đi tránh giặc, khi giặc rút ông lại trở về. Vì thế có người phê phán Tăng Tử về mặt đạo đức đã làm gương xấu cho dân chúng. Ngược lại, một lần khác, khi giặc đến, Tử Tư - một học trò của Tăng Tử - không chạy đi trốn khi quân Tề đến xâm chiếm mà ở lại giúp vua giữ thành. Tăng Tử và Tử Tư có hành động trái ngược nhau, vì thế, theo lẽ thường, nếu người này bị chê trách thì tất nhiên người kia được khen ngợi về đạo đức. Nhưng, Mạnh Tử - một tác giả nòng cốt của Khổng giáo - đã bằng quan điểm lịch sử cụ thể, chứ không lấy quan điểm đạo đức thuần túy để bình xét hai nhân vật Tăng Tử và Tử Tư. Theo Mạnh Tử, cả Tăng Tử và Tử Tư “xử thế như vậy đều hợp với đạo lý cả, tức là hai ông xử thế đều đúng với địa vị của mình. Ông Tăng Tử làm thầy, là ở hàng cha mẹ nên không xen vào việc chính trị. Ông Tử Tư làm quan, là bề tôi ăn lộc vua nên phải phò vua giúp nước. Nếu ông Tăng Tử và ông Tử Tư đổi địa vị cho nhau thì người này cũng làm như người kia mà thôi” [2, tr.690-691]. Sự kiện và quan điểm triết học đánh giá con người được ghi rõ trong kinh điển của Khổng giáo, cụ thể là phải dựa vào công việc, hành động của mỗi con người để đánh giá phẩm chất hơn, kém, tốt, xấu của cá nhân ấy. Điều này chứng tỏ nhận xét mang tính phê phán của giáo sư Trần Văn Giàu như đã dẫn là không đúng, không có sức thuyết phục.
Mạnh Tử còn có một truyện ngắn nói về hai người vợ hiền thục, yêu quý nhau, có chung người chồng bất tài, đốn mạt, một hôm người vợ cả, sau khi bàn với người vợ hai, đã bằng công việc, hành động để kiểm tra, xác minh phẩm chất đạo đức nói riêng, phẩm chất con người nói chung của anh chồng khốn nạn của hai chị. Truyện kể rằng, một anh chàng nước Tề có vợ cả và vợ lẽ đều sống chung một nhà. Người chồng thường đi ra ngoài, lúc nào về cũng tỏ vẻ mãn nguyện. Một hôm người vợ cả nói với người vợ hai: “Chồng chúng ta đi ra ngoài, hôm nào cũng cơm no rượu say, mặt mày đỏ tía, hỏi ăn uống với ai thì bảo ăn uống với kẻ giàu có, nhưng bình thường thì chẳng có người khách giàu có nào đến chơi. Chị sẽ đi rình xem hư thực thế nào?”. Rồi một hôm, người vợ cả lặng lẽ theo gót chồng mà chồng không biết, thấy anh chồng đi khắp kinh thành chẳng dừng lại nói chuyện với ai. Sau cùng, người vợ cả thấy chồng mình ra ngoại ô phía Đông, rẽ vào một nghĩa trang, tay chìa ra, miệng kêu xin những người tảo mộ cơm rượu thịt thừa để ăn uống, mộ này chưa đủ no, anh ta lại mò sang mộ khác chìa tay kêu xin thức ăn, rượu thừa để cho vào miệng. Khi ấy, người vợ cả mới biết con đường và cách kiếm ăn của chồng mình ghê rợn đến như vậy. Rồi người vợ cả trở về nhà, ôm người vợ lẽ, kể đầu đuôi câu chuyện về người chồng đi kiếm ăn theo phương thức nói trên. Hai người vợ cảm thấy tủi thân quá, cùng khóc vì có người chồng bất tài, chẳng có nhân cách, thể diện gì. Thế mà anh chồng nào có hay biết, lúc về nhà vẫn vênh mặt lên dương dương tự đắc khoe với hai người vợ là được bạn giàu sang mời cơm rượu [2, tr.691-692]. Qua tác phẩm này trong kinh điển của Khổng giáo, lại một lần nữa bác bỏ nhận định mang tính phê phán của giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng học thuyết đang bàn ở đây lấy đạo đức làm tiêu chuẩn để đánh giá con người. Truyện ngắn nổi tiếng đã được thuật lại trên đây rõ ràng là đã chuyển tải thông tin thầy trò họ Khổng chủ trương lấy hoạt động thực tế cụ thể để thẩm tra xác minh phẩm chất của con người.
 
3. Chỉ trích phi lý Khổng Tử tự phụ, trọng quan, trung quân mù quáng
 
Giáo sư Trần Văn Giàu còn phê phán nho giáo Khổng Mạnh “tự phụ là vụ khí vạn năng để trị quốc, bình thiên hạ” [11, tr.143]. Chỉ trích Khổng giáo như thế là chẳng có căn cứ gì cả, vì hoàn toàn xa lạ kinh điển với tư cách là đối tượng của sự phê phán. Khổng Tử, tác giả số một của Khổng giáo tuyệt đối không có phẩm chất tự phụ. Ông tin, khẳng định đạo trung dung của mình “thật cao quý, tuyệt vời thay”, nhưng ông tỏ ra lo ngại vì: “Đã lâu, trong dân chúng rất ít người có thể thi hành được đạo này” [2, tr.49]. Khổng Tử là bậc thầy dạy học, đồng thời tham gia việc chính trị, kiến thức có nhiều và sâu rộng, nhưng ông rất khiêm tốn, không hề kiêu căng, tự phụ. Ông nói: “Đạo lý làm người quân tử có bốn điều, nhưng ta đến một điều cũng chưa làm được” [2, tr.62]. Khổng Tử nói tiếp về chính phẩm chất, tính cách của ông: “Về tri thức văn hóa, thì ta cũng chỉ bằng người khác. Nếu nói về làm một người quân tử tu thân hành đạo trong thực tiễn, thì ta vẫn chưa làm được”. “Nếu khoác cho ta hai chữ thánh nhân, ta đâu dám nhận” [2, tr.255]. Như thế đấy, Khổng giáo và tác giả của nó rất khiêm tốn, không tự phụ. Học thuyết nào đó, tác giả nào đó kiêu căng, tự phụ thì quyết không phải là nho giáo Khổng Mạnh và tác giả của nó.
Giáo sư Trần Văn Giàu còn phê phán rất mạnh và dữ dội tư tưởng “trọng quan” trong Khổng giáo. Theo giáo sư phê phán “cần phải quét sạch” [11, tr.149] tàn dư tư tưởng ấy trong Khổng giáo.
Tìm hiểu Khổng giáo với một tinh thần khoa học, nghiêm túc, thận trọng, tránh nói và viết theo cách tùy tiện, vô căn cứ về học thuyết đã có sức sống trải qua bao bước thăng trầm suốt hơn hai ngàn năm lịch sử này, tôi thấy tác giả của triết thuyết nói trên có thái độ, tình cảm đúng mức với tầng lớp vua quan. Tức là ông tôn trọng các bậc vua quan đáng được tôn trọng, khinh ghét những hạng vua quan đáng khinh ghét. Khổng Tử lấy làm hài lòng, ca ngợi những minh quân. Ông nói: “Làm vua như vua Nghiêu thật vĩ đại thay! Thật là cao quý thay!... Công đức của vua Nghiêu to lớn không cùng, dân chúng không thể ca ngợi cho xiết” [2, tr.276]. Ở đây tác giả Khổng giáo ca ngợi bậc vua sáng được lòng dân, vì dân. Khổng Tử nói tiếp về một minh quân khác: “Đối với vua Vũ Vương, ta chả có điều gì phải nói nữa. Vua Vũ Vương ăn uống rất đạm bạc,... mặc áo quần rất giản dị, sơ sài... Cung thất ở rất chật hẹp, mà đưa toàn tâm, toàn lực ra xây dựng thủy lợi đê điều” [2, tr.278]. Thiết nghĩ, Khổng giáo coi trọng, ca ngợi những vị vua vì dân, của dân như trên là đúng, không có gì sai, không có gì phải phê phán cả.
Khổng Tử trọng vua, nhưng ông chủ trương không trọng vua một cách mù quáng. Ông nói: “Không được lừa dối vua. Nhưng nếu vua lầm lỗi, phải hết sức khuyên can, dù phải xúc phạm đến vua” [2, tr.410]. Khổng Tử tỏ ra có bản lĩnh trọng vua đúng mức như thế, chứ không trọng vua theo lối vua bảo sao nghe vậy.
Bá Di, Thúc Tề là con của vua Cô Trúc đều không hám ngôi vua, tranh nhau nhường ngôi vua cho người để bỏ đi nơi khác. Khổng Tử cho rằng hai người ấy là bậc người hiền thời cổ đại. Khổng Tử giảng giải cho học trò của ông về hai nhân vật đáng trọng ấy, với hàm ý ông chê trách coi khinh hai cha con vua Vệ tranh nhau làm vua, đó là vua bất nhân [2, tr.241-242].
Trong lịch sử, có những ông vua đáng bị lên án, coi khinh trong tình cảm, tư tưởng của Khổng Tử. Học trò của Khổng Tử đã ghi lại thái độ ấy của họ Khổng như sau: “Vua Kiệt, vua Trụ dùng bạo lực để quản lý thiên hạ. Dân chúng cũng theo đó mà làm loạn”. “Ra lệnh cho dân chúng thực hành, nhưng mình lại tàn bạo, thì dân nhất định chẳng nghe theo” [2, tr.28]. Rõ ràng là những vua không hiền minh, phải dùng đến bạo lực để cai trị dân thì Khổng Tử không kính trọng, mà ngược lại còn khinh ghét, lên án. Vua nước Tề là một kẻ hoang dâm, loạn luân bừa bãi. Em gái ruột quân vương này là Văn Khương đã lấy chồng mà ông ta còn săn tìm để quan hệ tình dục. Khổng Tử đã khinh ghét mỉa mai sâu cay vị vua háo sắc ấy phá bỏ luân thường đạo lý qua nhạc phẩm sau đây của ông: “Trên núi Nam (ở nước Tề) cao vời vợi / Có con chồn đực lang thang đi tìm đôi lứa (ví Tề Tương công như con chồn đi tìm em gái để thông dâm)/ Đường đi sang nước Lỗ bằng phẳng / Do đó nàng Văn Khương nước Tề đi theo chồng / Nàng đã được gả theo chồng rồi / Sao Tề Tương công lại còn nhớ tưởng đến nàng nữa?” [7, tr.378].
Câu hỏi trên không có lời đáp. Nhưng, đọc ca từ của nhạc phẩm ấy ai cũng có thể hiểu được tác giả của nó - hiền triết Khổng Tử - phê phán mạnh và nghiêm khắc vua Tề hoang dâm bất chấp luân thường đạo lý. Khổng Tử còn là tác giả của các ca khúc: lên án vua Tần Mục công truyền lệnh ba người hiền tài là con của Tử Xa phải chôn sống theo ông ta (vua Tần) khi ông ta chết; mỉa mai, chế giễu vua Trần Linh công lấy cớ đến Hạ Nam để thông dâm với nàng Hạ Cơ là vợ của một viên quan; châm biếm một ông vua chỉ chăm chăm lo y phục, không hề quan tâm đến việc triều chính [7, tr.481, 518, 524]; oán trách, lên án một vị vua nhà Ân không thi hành đúng phép tắc cũ hợp lý của tiên vương dẫn đến làm cho nhà Ân nghiêng đổ; châm biếm U Vương quá say mê nàng Bao Tự và tin dùng bọn hoạn quan bất tài đã dẫn đến hệ quả làm cho dân chúng khổ, xã hội không yên, bùng nổ chiến tranh [8, tr.767].
Tôi đọc nghiêm túc, tra cứu, rà soát kỹ Khổng giáo thì thấy trong đó Khổng Tử chỉ trung, tôn trọng các vua hiền minh, ông còn chủ trương không sợ việc góp ý can ngăn vua mắc sai lầm, và hơn thế nữa, nhà triết học vĩ đại này còn bộc lộ tư tưởng, tình cảm khinh ghét, phê phán rất mạnh mẽ, cay độc những viên quan tài hèn, ông vua tàn bạo, phản con người, hoang dâm, chăm lo y phục, tin cậy bọn không có tài cán gì, dẫn đến chiến tranh, làm cho dân chúng khốn khổ, v.v..
Từ những điều nói trên, chúng ta có thể đi đến kết luận, trong Khổng giáo tuyệt đối không có tư tưởng trọng vua quan một cách chung chung mù quáng.
Trong Khổng giáo tuyệt đối không có câu cực kỳ phi lý, vô nhân đạo, phản con người là “quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” [11, tr.408]. Câu này là của bọn phong kiến thống trị ở thời điểm chúng trở nên suy sụp, cực kỳ phản động và được bọn bồi bút là nho giáo cùng thời phụ họa tuyên truyền. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Quỳ đã thiếu một sự thận trọng, nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học, nên gán ghép bừa câu trên vào Khổng giáo!? Vì nó mà lúc nó được hiện thực hóa đã tru di cả ba họ Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, văn võ song toàn. Nó là sản phẩm phản động hết sức. Nó không phải là một nội dung cấu thành Khổng giáo. Nó bị Nguyễn Đức Quỳ mắc lỗi không nhỏ đã nhồi nhét vào Khổng giáo làm cho bạn đọc ngộ nhận lầm tưởng là của Khổng giáo nếu không có thời gian, điều kiện tra cứu, xác minh.
 
4. Phản bác không có bằng cớ Khổng giáo khinh dân và lao động chân tay
 
Nhiều giáo sư có danh tiếng của chúng ta phê phán rất mạnh mẽ tư tưởng khinh dân và lao động chân tay trong Khổng giáo. Đây cũng là một sự phê phán phi lý, là phê phán cái không có tại đối tượng nghiên cứu. Giáo sư Trần Văn Giàu đề xuất chủ trương “cần phải quét sạch” [11, tr.149] tư tưởng khinh dân trong Khổng giáo. Giáo sư Vũ Khiêu phê phán, kết tội Khổng giáo “gieo rắc vào đầu óc người ta tư tưởng khinh rẻ lao động chân tay”, cho công việc cày cuốc của dân là “công việc của kẻ tiểu nhân” [11, tr.292]. Thật khó tin hai giáo sư có uy tín khoa học vào hàng cao nhất ở Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ trước mà lại phê phán cái không có tại đối tượng nghiên cứu. Nhưng điều khó tin đó lại trở thành sự thật hiển nhiên rồi, vì nó đã được viết trong tham luận tại hội thảo khoa học và in thành sách phát hành rộng rãi.
Tôi, người viết tiểu luận này, đã đọc nghiêm túc toàn bộ kinh điển và tác phẩm quan trọng cấu thành Khổng giáo thì thấy không có một chữ, một câu nào chứng tỏ sự khinh dân, coi thường, thiếu tôn trọng lao động chân tay của nhân dân lao động, ngược lại, lĩnh hội được từ đó cả một hệ thống luận điểm, nguyên lý về tư tưởng trọng dân, thương yêu và chăm lo cho dân.
Kinh thi là một tác phẩm vĩ đại không chỉ của Khổng giáo, mà còn của cả đất nước quê hương của Khổng Tử. “Đất nước Trung Hoa tự hào có Kinh thi” [10, tr.1194]. Tác phẩm này do Khổng Tử san định. Khi giảng giải cho học trò về Kinh thi, Khổng Tử đã nói: “nếu được lòng dân là được nước, mất lòng dân là mất nước” [2, tr.32]. Khổng Tử nói vậy là tôn trọng, đề cao vai trò quan trọng, quyết định của dân, chứ đâu có phải là khinh dân như giáo sư Trần Văn Giàu đã phê phán Khổng giáo một cách tùy tiện, thiếu trách nhiệm.
Kinh thư, một tác phẩm khác cấu thành Khổng giáo, cũng do chính Khổng Tử biên soạn làm giáo trình giảng dạy. Trong ấy có nói rất rõ về quan hệ gắn bó máu thịt giữa dân với vua và vua với dân. Đây là câu trong tác phẩm trên do Khổng Tử viết để giảng dạy cho học trò: “Dân không có vua, lấy ai che chở? Vua không có dân, lấy ai cùng giữ nước?” [9, tr.244]. Đến đây, lại một lần nữa, chúng ta thấy Khổng Tử và học thuyết của ông, tức Khổng giáo, không khinh dân, mà ngược lại, rất coi trọng dân vì những giá trị lịch sử của dân không thể phủ nhận được.
Tư tưởng trọng dân của Khổng Tử còn biểu hiện, bộc lộ qua tình cảm thương yêu nhân dân lao động, tầng lớp hạ lưu nghèo khổ trong xã hội. Một hôm từ triều đình về, nghe tin chuồng ngựa cháy, Khổng Tử không quan tâm, lo ngại gì về ngựa và đồ dùng bị hỏng, bị cháy, ông chỉ hỏi: “Có ai bị thương không?” [2, tr.311]. Theo tư liệu lịch sử thì thời đại Khổng Tử sống, trước tác, làm quan và dạy học là thời đại chế độ nô lệ đang trong thời kỳ tan rã, trong xã hội có hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Giai cấp nô lệ trong thời đại ấy được coi như con vật biết nói, người chủ đánh đập, chửi bới, khinh rẻ nô lệ, có thể mua thêm nô lệ, hoặc đem nô lệ ra chợ bán như là bán con gà, mớ rau. Người mua nô lệ cũng chọn, xem xét hình thể nô lệ như là chọn, xem hàng để mua hàng. Có nơi một con ngựa đổi được 5 nô lệ. Tức là trong thời đại, xã hội chiếm hữu nô lệ, nô lệ không được coi là con người với đúng nghĩa của từ này. Nhưng, Khổng Tử, một học giả, một ông quan bãi triều về, biết có hỏa hoạn ở nhà, câu đầu tiên ông hỏi như trên (“Có ai bị thương không?”). Đại từ “ai” Khổng Tử dùng để chỉ những nô lệ trong tư dinh của ông. Ông đã nâng nô lệ ở hàng con vật, đồ vật lên hàng con người, khẳng định họ là con người. Tôi đồng ý với giới nghiên cứu Trung Quốc cho đấy là tư tưởng vĩ đại của Khổng Tử đã góp phần giải phóng con người. Tôi xin nhấn mạnh: Khổng Tử không chỉ trọng dân, thấy được vai trò, tác dụng lịch sử của dân, thêm nữa, ông còn yêu thương dân ở địa vị thấp hèn hơn cả tài sản có giá trị cao sang của ông.
Nói về tư tưởng trọng dân, thương dân của Khổng Tử nói riêng, của học thuyết mang tên ông nói chung, thiết tưởng, không nên bỏ qua chủ trương làm giàu cho dân và giáo hóa dân của nhà triết học vĩ đại ấy. Khi đến nước Vệ, thấy quá nhiều người, Khổng Tử kêu lên: “Dân đông quá!”. Người đánh xe cho ông hỏi: “Dân đã quá đông, nên làm như thế nào?”. Khổng Tử nói: “Phải làm cho họ giàu lên”. Người đánh xe lại hỏi thêm: “Dân đã giàu lên rồi thì nên làm như thế nào nữa?”. Khổng Tử nói: “Phải giáo hóa dân” [2, tr.373]. Vậy là vì trọng dân, thương dân, nên khi cảm thấy dân đông, nghèo đói, Khổng Tử chủ trương phải làm cho dân giàu lên để có cuộc sống kinh tế vật chất no đủ. Và Khổng Tử còn chủ trương giáo hóa cho dân nâng cao nhận thức, văn hóa. Tức là Khổng Tử rất thương dân, muốn cho dân được mỹ mãn cả về vật chất và tinh thần.
Khổng Tử trọng dân, thương dân đến thế mà giáo sư, nhà phê phán kết tội ông là khinh dân?! Lời kết tội ấy là không có căn cứ thực tế, và vì thế, không có sức thuyết phục được ai, ngoại trừ những người không có điều kiện đọc, hoặc không chịu đọc và sùng kính giáo sư, tin giáo sư một cách mù quáng.
Khổng Tử trọng dân, thương dân đến thế thì theo lôgích, suy luận khoa học, ông không thể là kẻ như giáo sư Vũ Khiêu phán xử: “gieo rắc vào trong đầu óc người ta tư tưởng khinh rẻ lao động chân tay. Cầy cuốc là công việc của kẻ tiểu nhân. Sĩ quân tử thanh cao hơn: họ đọc sách và dạy người” [11, tr.292]. Tôi xin dẫn chứng thêm để làm tường minh vấn đề nêu trên. Khi Phàn Trì xin Khổng Tử dạy bảo ông ta viẹc làm ruộng, Khổng Tử nói: “Ta không biết bằng người già làm ruộng”. Phàn Trì lại xin được dạy cho việc làm vườn, Khổng Tử trả lời tiếp: “Ta cũng không biết bằng người già làm vườn” [2, tr.369]. Qua đoạn thoại ngắn trên, chúng ta thấy Khổng Tử nói năng, cư xử đúng mức và có sự trân trọng, chứ không coi rẻ, xem khinh lao động chân tay. Phàn Trì vốn đang làm quan, làm cái công việc cai trị, dạy bảo dân ở nước Lỗ, nên ông ta muốn được lòng dân, mong dân tin nghe theo mình, vì thế, xin thầy Khổng dạy bảo cho công việc cấy trồng của dân, với hy vọng sẽ giúp được dân, dân tin nghe theo mình. Khổng Tử mắng: “Phàn Trì là kẻ tiểu nhân” [2, tr.369]. Hai chữ tiểu nhân ở đây với nghĩa là kẻ, người nhỏ nhen, suy nghĩ nông cạn, chứ không phải là chỉ người dân lao động cầy cuốc. Theo quan niệm của Khổng Tử, Phàn Trì đang làm quan thì cần “coi trọng lễ”, “coi trọng nghĩa”, “coi trọng chữ tín”, và nếu làm được ba điều ấy “thì dân bốn phương nhất định cõng con đến theo mình hết. Cần gì mình phải học việc trồng cấy?” [2, tr.369]. Ở đây, trong một hoàn cảnh cụ thể, một con người cụ thể là Phàn Trì đang làm quan thì Khổng Tử lập luận có lý và thuyết phục rằng: Phàn Trì muốn xứng danh là một ông quan của dân, vì dân thì phải trọng lễ tức là kỷ cương phép nước, trọng nghĩa và trọng chữ tín với dân, đó là những việc làm, điều kiện đủ quan trọng, cần thiết, để thu phục dân, không cần phải học trồng cấy để mong dân tin, nghe, theo mình. Ý tưởng của Khổng Tử được diễn giải rõ ràng như vậy và không có một dấu hiệu nào coi rẻ, coi khinh lao động chân tay cả.
Lịch sử văn học nghệ thuật Trung quốc ghi rõ công lao của Khổng Tử san định biên tập hơn ba ngàn thiên ca dao cổ, lấy lại hơn ba trăm thiên làm thành Kinh thi, tác phẩm có tiếng vang lớn, như chúng tôi đã nói, đó là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa. Khổng Tử còn phổ nhạc các thi phẩm trong Kinh thi. Hai ca khúc sau đây của Khổng Tử: 1) “Những ngày trong tháng giêng thì lo sửa soạn khí cụ làm ruộng/ Những ngày trong tháng 2 nhấc chân cất bước đi cày / Đàn bà và con trẻ thì cùng với ta / Đem cơm cho những người cày cấy ở mẫu ruộng phía Nam ăn / Quan khuyến nông đến thấy thế thì vui mừng” [7, tr.553]. 2) “Làm ruộng to thì phải nhiều hột giống/ Đã lo đầy đủ hột giống và sửa soạn nông cụ / Đã hoàn bị mới khởi sự / Lấy lưỡi cày bén của ta / Bắt đầu cày ở mẫu ruộng phía Nam / Rải trăm thứ hột giống xuống để gieo mạ/ Cây mạ lên thẳng và to” [8, tr.372]. Lời và ý nghĩa của hai ca khúc này do Khổng Tử sáng tác lại một lần nữa chứng tỏ nhà hiền triết họ Khổng và học thuyết mang tên ông không coi rẻ, coi khinh lao động chân tay làm những công việc cày cuốc gieo trồng, mà là ngược lại hoàn toàn, rất yêu quý con người lao động cùng việc làm chân lấm tay bùn vất vả của họ. Vì thế, phê phán Khổng giáo coi rẻ, xem khinh lao động chân tay, quả đúng là lối phê phán cái không có trong đối tượng phê phán. Phê phán tùy tiện theo cách này dễ lắm, nhưng tính khoa học và sức thuyết phục thì tuyệt đối không có.
 
5. Kết tội Khổng giáo sỉ nhục phụ nữ một cách vô căn cứ
 
Giáo sư Vũ Khiêu còn phê phán Khổng Tử, tác giả Khổng giáo, một cách quá ư phi lý khi học giả này hạ bút: “Thật là một điều sỉ nhục đối với phụ nữ, khi ông (Khổng Tử - người trích) quy đạo đức của phụ nữ vào bốn điểm Dung, Công, Ngôn, Hạnh. Đó là thứ đạo đức biến người đàn bà thành một công cụ mua vui cho đàn ông” [11, tr.269]. Trước hết phải nói điều này: lý thuyết về bốn phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ được hình thành, thực thi trong xã hội phong kiến kể cả khi giai cấp thống trị này trong thời kỳ đóng vai trò tích cực, tiến bộ cũng như lúc nó trở nên suy thoái, yếu hèn, phản động, chống lại quần chúng nhân dân. Nhưng dù ở bất kỳ thời điểm lịch sử nào thì lý thuyết về tứ đức trên đây cũng được nhân dân ta chấp nhận, thực hiện, chứ không phê phán, bài bác. Các bậc cha mẹ người Việt Nam từ xa xưa đến nay thường dạy con gái của mình phải chăm chỉ lao động (“công”), đi đứng nhẹ nhàng có ý tứ (“dung”), nói năng lễ độ với người trên, đúng mức với mọi người khác (“ngôn”), chính chuyên, thương yêu, chung thủy với chồng, cư xử lễ độ với cha mẹ và đúng mức với mọi người trong xã hội (“hạnh”). Lý thuyết về tứ đức của người phụ nữ nói trên là do giai cấp phong kiến thống trị xây dựng được nhân dân lao động đồng tình thực hiện. Thiết nghĩ, điều đó không có gì là xấu xa, phản con người, ép buộc đối với phụ nữ cả. Những điều ấy, cho đến hôm nay vẫn mang tính thời sự, được tiếp tục áp dụng, chứ không phải là tàn dư tư tưởng độc hại cần khắc phục, xóa bỏ.
Cùng với thuyết tứ đức có giá trị đáng được ghi nhận như đã nói trên đây, giai cấp phong kiến thống trị còn đưa ra thuyết tam tòng mang tính phản động ràng buộc, khống chế, chống phụ nữ. Thuyết tam tòng quy định: người phụ nữ lúc nhỏ còn ở gia đình với cha mẹ thì phải nghe, làm theo cha mẹ, cho dù song thân có yêu cầu, bắt buộc sai, vô lý; lúc trưởng thành lấy chồng người phụ nữ phải về nhà chồng, mọi việc phải nghe, làm theo chồng; chẳng may chồng chết yểu thì người phụ nữ góa bụa phải thờ chồng, mặc dù còn rất trẻ cũng không được tái hôn, để ở lại nhà chồng nuôi con và theo con. Thuyết tam tòng này rõ ràng là phi lý. Nó thật sự đóng vai trò phản động, khống chế phụ nữ, hủy diệt hạnh phúc của phái đẹp Việt Nam và của nhiều quốc gia khác có chịu ảnh hưởng và thực thi thuyết tam tòng. Giới nghiên cứu cũng như đông đảo quần chúng lao động, đặc biệt là phái đẹp của chúng ta có ác cảm với thuyết tam tòng do giai cấp phong kiến tạo lập, nên đã phê phán, chỉ trích quan niệm ấy rất mạnh, nặng nề, gay gắt. Thuyết phản động mang tên tam tòng này cần phải xóa bỏ. Thuyết tứ đức không hề có yếu tố lạc hậu, lỗi thời, nhưng nó cùng là tư tưởng, sản phẩm của giai cấp phong kiến thống trị, nên có không ít người thiếu tinh thần biện chứng ngộ nhận nó cũng xấu xa, cần khắc phục, tiêu diệt như thuyết tam tòng.
Giáo sư Vũ Khiêu có ý thức loại bỏ, trừ diệt thuyết tứ đức. Ông luận tội: lý thuyết về dung, công, ngôn, hạnh là sự sỉ nhục đối với phụ nữ, biến người đàn bà thành công cụ mua vui cho đàn ông. Giáo sư phê phán ở đây đã sai lầm không nhỏ. Không phải việc làm, tư tưởng gì của các giai cấp bóc lột như phong kiến, tư sản cũng đều là xấu xa, tiêu cực, phản con người. Thuyết công, dung, ngôn, hạnh như đã bàn luận là chủ trương giáo dục phụ nữ đúng đắn. Nó không có dấu hiệu nào sỉ nhục phụ nữ cả. Nó cũng không phải là có ý thức, cũng không phải là vô tình biến người phụ nữ trong xã hội cũ thành công cụ mua vui cho đàn ông. Những người phụ nữ làm nghề mua vui cho đàn ông là do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là không được giáo dục, tiếp thu bởi thuyết tứ đức, chứ không phải thuyết tứ đức dẫn họ đến việc làm đồi bại ấy.
Khổng Tử và học trò xuất sắc nhất của ông là Mạnh Tử cũng bàn nhiều về công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ, hơn nữa, còn luận về mấy phẩm chất đáng quý, trân trọng khác của phụ nữ như: tự do yêu đương, tự quyết đi đến hôn nhân hạnh phúc (rất xa lạ và đối lập với thuyết tam tòng); chủ động, mong muốn tái giá lúc còn trẻ mà chồng chết, thực hiện quyền con người một cách chính đáng (điều này cũng không có trong thuyết tam tòng, thậm chí còn bị thuyết phản con người này nghiêm cấm); có tình cảm yêu nước và phản đối chiến tranh.
Sau đây tôi sẽ luận chứng những nét chính yếu trong học thuyết về phụ nữ của Khổng giáo để giúp độc giả thấy được tư tưởng về phái đẹp tại học thuyết này có nhiều giá trị tích cực và tuyệt đối không có dấu hiệu nào đáng phải lên án, thanh toán như giáo sư Vũ Khiêu đã phán xử kết tội một cách rất nghiêm khắc, nặng nề.
Khổng giáo bàn luận, giáo dục phụ nữ về nhiều phẩm chất, chứ không dừng lại trong bốn đức tính công, dung, ngôn, hạnh.
Về phẩm chất “công” (chăm chỉ lao động) của phụ nữ, Khổng Tử đã phổ nhạc nhiều bài ca dao làm thành không ít ca khúc khuyên răn phụ nữ. Chẳng hạn, ca khúc sau nói về người phụ nữ chịu khó hái gom trái cây: “Trái phù dĩ hái rồi lại hái/ Hái rồi thì ta lại gòm chung/... Để còn lặt hột cho xong việc này” [7, tr.59]. Thí dụ khác, đó là ca khúc của Khổng Tử nói về cô gái chăm chỉ hái chàm suốt buổi sáng trong lúc vẫn tưởng nhớ đến người yêu quá hẹn gặp nàng mà chưa đến, vừa nhớ, vừa chăm làm chứ không bỏ bê công việc [8, tr.445].
Về phẩm chất “dung”, tức là dung nhan, dáng điệu, vẻ mặt của người phụ nữ, Khổng Tử cũng làm ca khúc mang tên Quan thư để mô tả dáng điệu đẹp của người phụ nữ hiền hậu: “Quan quan thư cưu/ Tại hà chi châu/ Yểu điệu thục nữ/ Quân tử hảo cầu” [7, tr.35]. Ca từ ở đây nói lên một thiếu nữ hiền ngoan xinh, có dáng người đi đứng đẹp, được tạm dịch là: “Hỡi cô gái dịu dàng xinh tươi. Có chàng tài ba muốn tìm hiểu. Không gặp được cô. Năm canh cứ trằn trọc trở mình”. Theo chính lời giảng giải của Khổng Tử thì nhạc khúc Quan thư nói về cô gái xinh đẹp dịu dàng “đưa đến một niềm vui mà không quá buông tuồng, mang lại nỗi buồn mà không đến mức đau thương” [2, tr.156-157]. Dung nhan, dáng điệu người phụ nữ được mô tả ở đây phải nói là đẹp đến mức lý tưởng. Nếu tác giả Khổng giáo sỉ nhục người phụ nữ, như giáo sư Vũ Khiêu đã kết tội, thì làm sao có thể khắc họa chân dung người phụ nữ đẹp đến vậy qua lời thơ và âm nhạc.
Về “ngôn”, lời nói của phụ nữ, các tác giả Khổng giáo cũng rất có ý thức chỉ giáo cho phụ nữ phải đúng mức để được sự yêu thương, chấp nhận của mọi người hữu quan. Đây vẫn là một ca khúc do Khổng Tử vừa soạn lời vừa phổ nhạc: “Chàng trai đẹp đẽ xinh xinh/ Hỡi em ngoài ngõ một mình xốn xang/ Hận lòng em chẳng tiễn chàng” [7, tr.344]. Mấy câu ca từ này diễn tả lời độc thoại nổi tiếng của người thiếu nữ, cô thương yêu người yêu chờ đợi cô, và cô hối hận vì đã không đưa tiễn chàng. Cô có lỗi và cô đã hối hận vì lỗi đó với người yêu. Lời hối hận ấy khiến độc giả đọc ca từ và thính giả nghe ca khúc chỉ có thể thông cảm cho cô chứ không nỡ trách giận cô. Mạnh Tử, một học trò của Khổng Tử, một tác giả góp phần tích cực, quan trọng làm nên Khổng giáo cũng nhắc nhở, chỉ giáo cho phái đẹp phải biết nói năng, được lòng gia đình nhà chồng. Mạnh Tử làm lời người mẹ dặn bảo con gái lúc sắp bước tới nhà chồng: “Con về nhà chồng tức là về nhà của con, thì phải cung kính, cẩn thận, đừng làm trái ý chồng” [2, tr.641]. Chữ “làm” trong câu nhắc nhở con gái của bà mẹ bao hàm cả suy nghĩ, việc làm và lời nói của con gái. Tức là Khổng giáo đã nhiều lần chỉ giáo, dạy bảo phụ nữ phải nói năng đúng mức, tình cảm và lễ độ.
Về phẩm chất “hạnh”, tức tiết hạnh, chính chuyên, chung thủy của phụ nữ với chồng được đề cập nhiều trong Khổng giáo.
Khổng Tử đã làm một ca khúc rất cảm động về lòng chung thủy của người vợ có chồng ở phương xa. Chị ở nhà đêm đông suy nghĩ u buồn, ban ngày hằng nhớ trông mong chồng. Và chị độc thoại: “Trăm năm trọn kiếp thủy chung / Nguyện chôn một huyệt cùng chồng mà thôi” [7, tr.456]. San định làm nên tập Kinh thi và phổ nhạc thành ca khúc trên, Khổng Tử đã góp phần giáo dục phụ nữ có lòng chung thủy, sống chết cùng chồng.
Ở trên tôi đã sơ bộ luận chứng trong Khổng giáo đã bàn luận, giáo dục phái đẹp về bốn phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh. Giới nghiên cứu cùng bạn đọc một cách nghiêm túc, cẩn trọng thì sẽ lĩnh hội được Khổng giáo không hề sỉ nhục phụ nữ, biến người đàn bà trong xã hội thành những công cụ để mua vui cho đàn ông như nhận xét, kết tội học thuyết đang bàn tại đây của giáo sư Vũ Khiêu.
Học thuyết về phụ nữ trong Khổng giáo không dừng lại ở việc bàn luận về bốn phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh của phái đẹp. Nó còn bao hàm nhiều đức tính đáng trân trọng khác nữa của người có thiên chức làm hiền thê và từ mẫu được trình bày tiếp sau đây nhằm mục đích tường minh thêm vấn đề đã nói ở trên.
Đó là tinh thần yêu nước, phản đối chiến tranh của phụ nữ. Một ca khúc do Khổng Tử san định Kinh thi làm lời rồi phổ nhạc nói về người con gái của bà Tuyên Khương làm phu nhân, vợ Mục công nước Hứa, đau xót vì nước Vệ đã mất, khiến lòng phu nhân “nặng nỗi ưu sầu” thương Tổ quốc của mình đã mất [7, tr.244]. Chiến tranh ở đâu, bao giờ cũng gây nên đau thương, tổn thất cho dân lành. Nhiều người phụ nữ phải mất chồng, chịu cảnh góa bụa cô đơn bởi chiến tranh. Khổng Tử đã làm nhạc phẩm tỏ lòng thương người phụ nữ góa “đơn cô một mình” vì chiến tranh [8, tr.476]. Ca từ trong tác phẩm âm nhạc này của Khổng Tử chuyển tải thông tin: phụ nữ đau khổ do chiến tranh cho nên phản đối chiến tranh. Qua nhạc khúc được để đời này, người đọc lời ca từ hơn hai ngàn năm trước đến nay đều cảm nhận được Khổng Tử có sự cảm thông, yêu quý, chia sẻ với phụ nữ trước sự mất mát, đau khổ của họ là hậu quả của chiến tranh. Tính khách quan của sự thể hiện ở đấy là nhân vật phụ nữ cũng như tác giả ca khúc trữ tình cùng phản đối chiến tranh, bởi chiến tranh đã làm cho dân lành, đặc biệt là phái đẹp phải đau khổ, tổn thất những giá trị không có gì bù đắp được.
Đó là ý chí tự do, tự quyết trong quan hệ yêu đương tiến tới hôn nhân của người phụ nữ, chứ không chịu sự ràng buộc, ép đặt của gia đình cùng các nhân tố khác. Một tác phẩm của Khổng Tử mô tả chàng trai mang tiền đi giả vờ mua hàng, nhưng đến để mưu tính với cô gái mà anh yêu thương “việc vợ chồng” và cô gái này đã có lời hẹn chàng trai đến mùa thu [7, tr.244]. Một ca khúc khác nữa của Khổng Tử nói về cô gái góa chồng thấy anh nam giới góa vợ thì tỏ lòng thông cảm, thương yêu và muốn lấy anh ấy làm chồng [7, tr.267]. Ca từ khúc hát này vốn do Khổng Tử san định từ ca dao cổ, xong rồi nhà triết học lừng danh này tiếp tục phổ nhạc. Với tác động thẩm mỹ của thơ ca và âm nhạc, Khổng Tử đã muốn chỉ giáo cho phái đẹp cần thực hiện quyền con người tự do yêu đương đi đến hôn nhân chứ không chịu sự câu thúc, áp đặt từ cha mẹ và các thế lực khác.
Tất cả những điều nói trên chứng tỏ học thuyết về phái đẹp trong Khổng giáo không có và không thể có sự sỉ nhục phụ nữ, biến họ thành công cụ mua vui cho đàn ông. Bởi vì ở đấy chứa đựng đến mức độ nhiều sự trân trọng, yêu quý, thông cảm và chia sẻ đối với phụ nữ, hơn nữa còn chỉ dẫn, cổ võ những người có thiên chức làm vợ, làm mẹ thực hiện quyền con người của mình về tự do, tự quyết trong quan hệ yêu đương đi đến hôn nhân hạnh phúc.
 
6. Quả quyết tùy tiện Khổng giáo là học thuyết bảo thủ
 
Trong đời sống khoa học xã hội Việt Nam đã có một sự phê phán rất phi lý, cho rằng Khổng giáo là học thuyết bảo thủ không có sáng tạo mới. Chỗ dựa đồng thời là xuất phát điểm của nhiều người đi đến sự phê phán này là câu nói của Khổng Tử: “Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác” [2, tr.231] (nguyên bản chữ Hán là “thuật nhi bất tác”). Thí dụ, Nguyễn Văn Thịnh viết: “Khổng Tử có để lại câu “thuật nhi bất tác”, câu “thuật nghi bất tác” thường nhấn mạnh vào khía cạnh tiêu cực của bản nghĩa (hãy thuật lại đừng sáng tác mới), đó là tư tưởng phục cổ, bảo thủ” [1, tr.226]. Đúng là bản nghĩa tức nghĩa đen của “thuật nhi bất tác” là “thuật lại cái cũ đã có, không sáng tác mới”. Nhưng nếu chỉ nhìn vào bốn chữ này rồi đi đến phê phán Khổng Tử và học thuyết của ông là bảo thủ, chỉ thuật lại, không có sự sáng tạo, làm ra cái mới thì rất sai lầm, không thể thuyết phục, cảm hóa được những người nghiên cứu cùng đông đảo bạn đọc nghiêm túc tìm hiểu kỹ toàn bộ tác phẩm cấu thành Khổng giáo.
Khổng Tử, như đã nói ở trên, là một học giả đa tài, có kiến thức vừa sâu vừa rộng, ông rất khiêm tốn, không kiêu căng tự phụ. Ông nói ông chỉ thuật lại mà không sáng tác, không làm ra cái mới, đó là một câu khiêm nhường của nhà hiền triết đáng kính.
Nếu một tiểu phẩm, một học thuyết với nội dung phục cổ, bảo thủ, nói lại điều người ta đã nói, không có cái mới thì nhất định sẽ bị lãng quên trong tâm trí độc giả. Khổng giáo dù qua nhiều bước thăng trầm, nhưng nó đã tồn tại trên hai ngàn năm nay và đã từ lâu cũng như hiện tại, tác giả của nó được tôn vinh là nhà triết học vĩ đại, các tác phẩm kinh điển cấu thành nó được in đi in lại, phát hành không chỉ trên quê hương tác giả của nó mà còn tại nhiều nơi trên thế giới nữa. Điều đó chứng tỏ Khổng giáo phải có cái mới, tiến bộ, hợp lý, chứ không thể là bảo thủ, phục cổ, lạc hậu, như con vẹt nhắc lại lời người khác. Dưới đây, người viết tiểu luận này chứng minh cho nhận xét khái quát trên.
Trong Khổng giáo có một hệ luận điểm, nguyên lý, tư tưởng về đổi mới. Khổng Tử giảng dạy, giáo dục các học trò, và các học trò ghi lại lời thầy để truyền dạy cho học trò đương thời cũng như hậu thế như sau: “Mỗi ngày nếu có thể làm cho mình được mới hơn, thì ngày nào cũng nên tự đổi mới, đã đổi mới rồi, càng mới hơn nữa... Nên khuyến khích nhân dân tự đổi mới” [2, tr.16]. Chủ trương này của Khổng Tử đã góp phần làm cho học thuyết của ông có giá trị hiện thực đáng ghi nhận.
Khổng giáo còn chủ trương: “Người ta có lỗi mà biết sửa là được rồi, không nên xa lánh họ nữa” [2, tr.61]. Đây cũng là một luận điểm, lời chỉ giáo mang tính đổi mới, hướng thiện. Đã là con người hiện thực, mấy ai tránh được sai lầm, không mắc lỗi. Nhưng một khi người mắc lỗi đã nhận ra và tự sửa lỗi, hoặc được người khác chỉ bảo giúp để sửa lỗi ấy, thì theo Khổng Tử, mọi người không nên xa lánh kỳ thị người có lỗi đã sửa lỗi.
Người bảo thủ, học thuyết bảo thủ thì không thể có được quan điểm, tư tưởng đổi mới như trên. Khổng Tử và học thuyết của ông bao hàm tư tưởng, chủ trương đổi mới như vậy mà ai đó phán xét, kết tội Khổng giáo và tác giả của nó là bảo thủ, lạc hậu là không đúng, hơn nữa, là sai lầm, và hơn thế nữa, là xuyên tạc đối tượng nghiên cứu chứa đựng nhiều quan điểm, lý thuyết ra đời từ hơn hai chục thế kỷ trước, và cho đến hôm nay vẫn còn mang tính thời sự.
Khổng Tử khiêm nhường nói chỉ thuật lại chứ không có sáng tác, làm mới, nhưng thật ra ông đã xây dựng được nhiều học thuyết, tư tưởng tiến bộ mà trước đó chưa hề có. Thí dụ, tư tưởng trọng dân, tư tưởng đổi mới trong Khổng giáo đã bàn sơ bộ ở trên.
Khổng Tử còn hình thành một học thuyết về lý luận nhận thức với những nguyên lý để lại ấn tượng khó phai mờ trong tâm trí độc giả nói chung và giới nghiên cứu triết học nói riêng. Đó là câu nổi tiếng sau đây của Khổng Tử: “Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế cũng là người thông minh có hiểu biết rồi vậy” [2, tr.134]. Thí dụ khác nữa, đó là câu vẫn của tác giả Khổng giáo: “Buổi sáng biết được chân lý (đạt đến kết quả cao nhất của quá trình nhận thức - người trích), thì dù cho buổi chiều có chết cũng cam lòng” [2, tr.168]. V.v.. Lý luận nhận thức trong Khổng giáo với những nguyên lý, luận điểm như trên không có trong học thuyết Lão Trang đồng thời đại với Khổng Mạnh, cũng không có trong các triết thuyết trước và sau thời đại Khổng Mạnh.
Trong Khổng giáo có những quan niệm, tư tưởng mang tính vượt thời đại. Chẳng hạn, tư tưởng về quyền con người được tự do, tự quyết trong quan hệ lứa đôi đi đến hôn nhân hạnh phúc, không chịu sự ép đặt, ràng buộc của bất kỳ lực cản nào. Theo quan niệm từ truyền thống của Trung Quốc, cũng như của Việt Nam, thậm chí cho đến ngày nay thì việc nam nữ thanh niên tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân phải kính báo cha mẹ. Nhưng, Mạnh Tử, một tác giả có công kế tục, phát triển, hoàn thiện, làm phong phú hoàn chỉnh hơn quan điểm, học thuyết của Khổng Tử đã biện hộ, bào chữa, bênh vực cho “ông Thuấn lấy vợ mà không bẩm báo trước với cha mẹ” [2, tr.695]. Việc này, Mạnh Tử không cho là lỗi, là sai, mà là hợp lý. Ông giải thích cho học trò rằng; “Nếu bẩm báo trước (cho cha mẹ - người trích) thì việc lấy vợ (của ông Thuấn - người trích) sẽ không thành. Trai gái lấy nhau là việc lớn trong luân thường đạo lý. Nhưng nếu bẩm báo (với cha mẹ - người trích) rồi mà không được lấy, sẽ bỏ mất việc lớn ấy trong luân thường đạo lý, lại dẫn đến cha mẹ phiền giận. Bởi thế cho nên ông Thuấn không bẩm báo” [2, tr.695]. Mạnh Tử giảng giải cho học trò như vậy. Đây cũng chính là thông điệp của Khổng giáo muốn gửi cho cả thiên hạ biết để chấp nhận, không ngăn cản nam nữ thanh niên thực hiện quyền con người chính đáng của mình về tự do yêu đương, tiến tới hôn nhân hạnh phúc.
Trong lịch sử tư tưởng cổ đại Trung Quốc có không ít khái quát khoa học độc đáo rất đáng được ghi nhận. Chẳng hạn, tại học thuyết Lão Trang có mệnh đề triết học của Trang Tử rất nổi tiếng: “Có đi rồi mới thành con đường” [3, tr.164]. Câu cách ngôn này được Lỗ Tấn, người đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng văn học hiện đại của Trung Quốc, nhắc lại và diễn đạt hơi khác đi một chút, nhưng nội dung, ý nghĩa thì vẫn giữ nguyên, không thay đổi như sau: “kỳ thực, trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi” [6, tr.91]. Tức là luận điểm nói về trên mặt đất vốn không có con đường, có con đường là do người ta đi mãi mà thành, là của nhà triết học Trang Tử, Trang Tử là tác giả đích thực, đầu tiên của mệnh đề khái quát đó, còn Lỗ Tấn chỉ là người nhắc lại.  (Nhưng, nhà văn Nguyên Ngọc trong tùy bút Đường chúng ta đi, ký bút danh Nguyễn Trung Thành, được trích giảng cho các trường phổ thông cấp III và được nữ phát thanh viên có chất giọng khỏe, vang, truyền cảm đọc nhiều lần trên Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, đã sai lầm khi nghiễm nhiên cho khái quát triết học nói trên về con đường là của Lỗ Tấn). Về thực tại khách quan đang bàn ở đây, Mạnh Tử, một tác giả nòng cốt của Khổng giáo, viết: “khe núi rất hẹp, vì có nhiều người đi nên đã thành con đường nhỏ. Nhưng nếu một thời gian ngắn không ai đi qua, cỏ gianh sẽ lấn át, làm tắc mất đường” [2, tr.798]. Qua luận điểm này, độc giả thấy, Mạnh Tử cũng như Trang Tử đều cùng khẳng định hoạt động thực tiễn của con người là việc làm có ý nghĩa khai phá, sáng tạo. Song, Mạnh Tử, người phát triển, hoàn thiện Khổng giáo còn luận giải thêm: để duy trì kết quả hoạt động sáng tạo của con người thì con người cần phải tiếp tục không ngừng, không nghỉ hoạt động sáng tạo, nếu không làm như vậy thì đến một lúc nào đó kết quả hoạt động thực tiễn đã đạt được sẽ tiêu tan hết, không thể tồn tại được. Vậy là một mệnh đề triết học của Trang Tử rất độc đáo có sức cảm hóa người đọc đến mức kỳ diệu đã được Mạnh Tử bổ sung, phát triển (chứ không phải chỉ là nhắc lại) thành một luận điểm triết học hấp dẫn độc giả cũng đến trình độ thật tuyệt vời.
Như trên đã trích dẫn, phân tích, bình luận tư tưởng, học thuyết trọng dân của Khổng Tử. Khổng Tử sống và trước tác trong thời đại chiếm hữu nô lệ. Trong thời đại ấy, con người lao động, tức giai cấp nô lệ ở tầng lớp hạ lưu, chỉ được coi như công cụ biết nói, như một thứ hàng hóa, chủ nô có thể đem bán, và nếu cần thì mua nô lệ. Nhưng Khổng Tử đã giàu lòng trắc ẩn, yêu thương dân, tức những người nô lệ, nâng họ lên, khẳng định họ là con người, coi họ là gốc của nước, họ cần đến vua, và vua cũng không thể thiếu họ, phải gắn bó máu thịt với họ. Thấy dân đông và nghèo khổ, Khổng Tử chủ trương phải làm cho dân giàu lên, phải giáo hóa dân. Trong thời cổ đại, ngoài Khổng Tử, không có người thứ hai xây dựng, đề xuất được tư tưởng trọng dân vĩ đại như thế.
Chúng ta đang sống trong thời đại kinh tế tri thức, các nước trên thế giới đã, đang từng bước xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế ưu việt tiến bộ nhất của nhân loại này còn có tên gọi khác là nền kinh tế học tập vì nó đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, học tập để nâng cao tri thức cho con người. Con người phải hết sức quan tâm việc học tập để nâng cấp, bổ túc tri thức thì mới làm kinh tế tri thức được. Ngô nghê, dốt nát thì không thể hòa nhập với xu thế chung của thời đại là đi vào xây dựng và phát triển kinh tế tri thức. Phải học, học nữa, học mãi như Lênin đã chỉ giáo. Khổng Tử đã thấy được tầm quan trọng của công tác giáo dục, học tập để nâng cao hiểu biết cho con người từ hơn hai ngàn năm trước. Từ thời điểm lịch sử ấy, không có ai khác Khổng Tử chủ trương: “kiên trì học tập không biết chán, dạy bảo người không biết mệt mỏi” [2, tr.231]. Về phương pháp học tập, Khổng Tử chỉ giáo cho học trò phải ham học, “thường xuyên ôn tập”, “học với tinh thần mẫn cán”, có được sự hiểu biết mới cần “thực hành ngay” [2, tr.99, 118, 331]. Về mục đích học tập, Khổng Tử huấn thị cho học trò rằng, phải vận dụng sự hiểu biết để làm việc chính sự [2, tr.370]. Tức là theo Khổng Tử, việc học tập có mục đích, không phải học như con vẹt, chỉ để biết và nói suông, trở nên xa lạ với cuộc sống, ngược lại, học để làm việc và ứng dụng. Khổng Tử còn chỉ dẫn tiếp phải biết làm việc và hành động một cách thông minh để được kết quả mỹ mãn. Theo ông, phải có điều kiện mới hành động, làm việc được và phải biết làm việc gì trước, thực thi việc nào sau. Ông nói một cách có hình ảnh để học trò và người đời lưu ý không quên: “Phải có nền trắng trước đã, sau mới có bức họa đẹp” [2, tr.149]. Khổng Tử còn lưu ý học trò và người đời rằng, có những công việc chúng ta không thể làm được. Ông dẫn chứng: “Gỗ mục không có cách gì đẽo được thành công cụ. Giống như bức tường bằng đất nhỏ, xấu xí thì không bao giờ quét vôi cho mới được” [2, tr.188]. Từ hơn hai chục thế kỷ trước mà Khổng Tử đã có nhận xét khái quát chính xác, và tạo lập được tư tưởng mới, tiến bộ, độc đáo, vĩ đại như thế!
Trong thời đại hiện nay, không ít người tỏ ra rất ảo tưởng, ngỡ rằng chỉ với “mo cơm”, “mo cà” và “tấm lòng cộng sản” là đi lên được chủ nghĩa xã hội - một xã hội, về lý thuyết, là cao hơn, văn minh hơn chủ nghĩa tư bản. Những chữ trong ngoặc kép này là lời đồng chí Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An mà tôi đã được nghe và ghi chép khi nhân vật hoạt động chính trị thực tiễn đó báo cáo phụ khóa cho Đoàn cán bộ, giảng viên, học viên của Trường Nguyễn Ái Quốc 5 đến nghiên cứu thực tế tại Quỳnh Lưu vào tháng 7 năm 1977. Lúc đó, tư tưởng, quan điểm cuồng nhiệt ấy được hoan nghênh, chưa bị phê phán, sau đó nó mới bị coi là ảo tưởng và lãng quên đi. Thật ra, tư tưởng, quan điểm ấy đã chống lại quan điểm, tư tưởng khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh. Lênin, một tác giả của chủ nghĩa Mác, nói: “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô. Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại hẳn... vì chủ nghĩa xã hội đã tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều. Đó là sự nghiệp rất khó khăn và rất lâu dài” [4, tr.25]. Phải vượt qua khó khăn, và phấn đấu lâu dài thì chủ nghĩa xã hội mới thắng lợi được. Trong thời gian đó và trong các nhiệm vụ lịch sử rất khó khăn, lực lượng cách mạng chỉ có thể tạo lập chủ nghĩa xã hội nếu làm ra được một năng suất lao động mới cao hơn của chủ nghĩa tư bản. Muốn vậy phải học tập nâng cao tri thức, hiểu biết để phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hơn của chủ nghĩa tư bản rồi ứng dụng vào sản xuất, ngõ hầu, đạt năng suất lao động đến mức lý tưởng. Hồ Chí Minh nói: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” [5, tr.303]. Người sáng lập Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam còn nói: từ xã hội cũ tiến lên chủ nghĩa xã hội “là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài”, “trước hết mọi người phải ra sức xây dựng kinh tế cho vững mạnh” [5, tr.20, 137]. Như vậy là cả chủ nghĩa xã hội khoa học và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng khẳng định, nhấn mạnh tiến lên chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài để xây dựng bằng được nền kinh tế mới có năng suất cao, muốn vậy phải hình thành được nền khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại, con người mới để thực hiện các nhiệm vụ lịch sử. Chỉ với “mo cơm”, “mo cà”, v.v. là những biểu tượng của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, con người lao động vẫn thuộc lớp người cũ nghèo khổ, cực nhọc mà đã cuồng nhiệt đi lên chủ nghĩa xã hội thì có khác nào chưa có cái nền trắng đã muốn vẽ bức tranh đẹp, chưa có điều kiện, cơ sở vật chất thiết yếu đã nhiệt tình, sốt sắng, thật ra là ảo tưởng, liều mạng, đi lên xã hội mới ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản. Phải chú trọng làm nhiều việc để xây dựng phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại và đào tạo, hình thành con người có phẩm chất mới vừa để xây dựng, phát triển, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại tạ