(Nhân sự kiện tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của nhà thơ
Trương Đăng Dung, được dịch và xuất bản ở Hungary)

Trong khuôn khổ liên hoan sách quốc tế Budapest – Hungary, ngày 21/4/2018, Viện Balassi thuộc Bộ ngoại giao Hungary, Nhà xuất bản Châu Âu đã tổ chức buổi ra mắt tập thơ song ngữ (Việt - Hung) Những kỷ niệm tưởng tượng của nhà thơ Trương Đăng Dung.

Sau khi được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2011, Những kỷ niệm tưởng tượng trở thành một hiện tượng nổi bật của thơ Việt Nam những năm lại đây. Qua đó, Trương Đăng Dung được biết đến như một nhà thơ đương đại có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực thơ ca giai đoạn đầu thế kỷ XXI. Đáng lưu ý, Những kỷ niệm tưởng tượng do nhà xuất bản Thế giới ấn hành ở Việt Nam năm 2011 chỉ có 25 bài thơ, là tập thơ đầu tay sau hơn 30 năm lặng lẽ sáng tạo của Trương Đăng Dung. Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội có thể là một ghi nhận (dù khá khiêm tốn), nhưng đến lần ra mắt tại Châu Âu này, người ta đã hiểu rằng, giá trị, bản thân nó vượt lên thời gian và không gian.

Năm 2017, trong một lần về nước, dịch giả Giáp Văn Chung (người đã dịch sang tiếng Việt những tác phẩm quan trọng của văn học Hungary hiện đại, Huân chương Chữ thập vàng của Nhà nước cộng hoà Hungary - 2017) đã phát hiện ra Những kỷ niệm tưởng tượng. Ông nuôi ý định dịch và giới thiệu lên Viện Balassi (Bộ ngoại giao Hungary) nhằm quảng bá, giới thiệu tác phẩm đến với người đọc của xứ sở Trung Âu này. Được sự đồng ý của Nhà nước Hungary, Đại sứ quán Hungary tại Hà Nội, Viện Balassi, Nhà xuất bản Châu Âu (Euópa - Budapest) đã mang đến cho công chúng một phiên bản song ngữ Những kỷ niệm tưởng tượng đầy ấn tượng. Cuốn sách được dịch bởi nhà thơ đương đại hàng đầu Hungary – Háy János (qua bản dịch nghĩa của Giáp Văn Chung). Không chỉ là sự tái bản, Những kỷ niệm tưởng tượng (phiên bản Euópa) có thêm một số bài thơ mới sáng tác của Trương Đăng Dung và được sắp xếp lại vị trí các bài thơ nhằm hướng đến việc thể hiện rõ hơn tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Như thế, nếu tính từ 1978, khi Trương Đăng Dung bắt đầu làm thơ, đến 2018, 40 năm đã đọng lại thành 38 bài thơ trong tập thơ này. Điều đó thêm một lần nữa lưu ý người đọc rằng, Trương Đăng Dung đã bền lòng theo đuổi nghệ thuật thơ ca và quan niệm giá trị của mình đến thế nào. Theo thông tin từ bà Szilvia Kuczogi (Giám đốc Nhà xuất bản Châu Âu), tập thơ in 2000 bản và được bán khá nhanh trong chương trình liên hoan sách quốc tế tại Budapest. Ngay sau sự kiện ra mắt tại Budapest - Hungary, Trương Đăng Dung cùng Những kỷ niệm tưởng tượng tiếp tục đến với cộng đồng người Việt Nam tại Cộng Hoà Liên Bang Đức.

Những kỷ niệm tưởng tượng, như đã nói, là tập thơ đầu tay của Trương Đăng Dung. Độc giả Việt Nam nếu đã có dịp tiếp cận 25 bài thơ trong ấn phẩm của nhà xuất bản Thế giới (2011) hẳn sẽ nhận ra ở đó những ám ảnh khôn nguôi, những dằn vặt đến đau đớn, những bất an thường trực về thân phận con người, về nỗi cô đơn và cái chết. Vượt lên khỏi những giới hạn của không gian, thời gian (mang tính quy ước), vượt lên cả những định chế của quốc gia hay tôn giáo, chủng tộc, thơ Trương Đăng Dung chạm đến những vấn đề cốt lõi, phổ quát của đời sống con người. Ở đó, người đọc nhận ra khuôn mặt lạnh lùng, tàn nhẫn của thời gian, sự “vô tính” của nó – luôn là hiện tại, nhưng lại chi phối triệt để đến hiện hữu. Một thứ thời gian bên trong – thời gian mang “ý hướng tính” của chủ thể đã trùm phủ hay đúng hơn là xuyên nhập trong cấu trúc thơ Trương Đăng Dung. Không quan trọng là ba mươi năm hay ba triệu năm, mà quan trọng hơn là ý niệm của chủ thể về hiện hữu, về tồn tại. Ở đó, mọi thứ bỗng rơi vào một cơn ác mộng với biết bao điều phi lý, bất ổn, giới hạn, tàn huỷ. Cũng ở đó, sự sống đúng nghĩa và các giá trị nhân bản sâu xa bỗng trở nên xa xỉ, thậm chí chỉ còn là những niềm tuyệt vọng diệu kỳ và đau đớn. Trương Đăng Dung thấm thía đến tận cùng bản thể thảm trạng của đời sống con người, trong nỗi bất hạnh bị sinh ra, bị ném vào đời, bị đặt vào các tình thế không được chọn lựa. Và thơ, như một hình thái đỉnh cao của tư tưởng, nghệ thuật, đã cất lời về “hữu thể và thời gian” trong cuộc hiện sinh đầy bị động và mỏi mệt.

Vẫn nguyên không khí thơ ca ấy, phiên bản Những kỷ niệm tưởng tượng do Nhà xuất bản Châu Âu ấn hành có thêm 14 bài thơ mới như: Sách của Gióp, Sách của Gio-Na, Sách của Aylan Kurdi, Lên cao Lên cao, Tinh thần Kafka, Ác mộng, Tự do của Kazantzaki, Tự bạch,… Đề từ trên bìa của tập thơ đã nói lên sự đồng cảm sâu xa của một cộng đồng đọc khác: “Do đâu mà những bài thơ-thời-gian này, cơn ác mộng hiện đại thể hiện qua bản dịch của Háy János, lại quen thuộc với chúng ta đến thế? Giữa các câu thơ là sự vận hành của thời gian, là nỗi vô vọng khôn nguôi của sự sa đoạ, sự bất an và tha hoá các giá trị” (bìa 1). Viện Balassi trong kế hoạch giới thiệu các giá trị nhân loại vào Hungary đã cho thấy lựa chọn của họ là có cơ sở. Thơ Trương Đăng Dung đã vượt ra khỏi những ranh giới của một cộng đồng biệt lập, tiến đến các giá trị nhân bản, chạm vào những câu chuyện của không riêng bất kỳ quốc gia, dân tộc, thể chế, tôn giáo hay chủng tộc nào:

Em nói trời xanh anh chỉ thấy mắt em
em nói mùa xuân anh chỉ thấy môi em
hoàng hôn xuống đã trùm lên hết thảy
bóng hai ta nhỏ bé giữa đất dày

(Không đề)                    

Không gian, thời gian cùng những chuyển động của nó hiện diện một cách đủ đầy trên phận người nhỏ bé. Bởi thế, bất an, lo lắng, sợ hãi, cô độc, ác mộng và cái chết dường như luôn là điều khiến thi sĩ bận tâm: từ cá nhân đến bản thể. Không thể không nhận ra những ảnh hưởng một cách sâu đậm tinh thần của triết học hiện sinh trong thơ Trương Đăng Dung. Nhưng, điều đó dường như chỉ là một yếu tố chi phối đến sáng tạo thi ca. Tinh ý hơn, từ góc độ thực hành nghệ thuật, hiện tượng luận đặt trong bối cảnh đầy bi đát của chủ nghĩa hiện đại mới là điều Trương Đăng Dung lựa chọn cho chiến lược phát ngôn của mình. Tính hiện đại, chủ nghĩa hiện đại với các nguy cơ của nó (chúng ta sống trong nỗi cô đơn tập thể), các khả năng cũng như giới hạn của nó đã được “giảm trừ” để trở về với yếu tính của hiện hữu, của đời sống, của bản thể. Bởi thế mà, con người gần như trần trụi trong tình thế của nó. Không phải là hình thái như Desmond Morris đã nói (Vượn trần trụi), mà là sự trần trụi đáng thương trong yếu tính của tồn tại. Chẳng có gì che chở, cứu rỗi con người ngoài một thân phận bé nhỏ, một số kiếp ngắn ngủi, một định mệnh lưu đầy. Vượt thoát khỏi những khung khổ của một nền nghệ thuật phản ánh luận, giải bỏ những thao tác có tính điển phạm để đi đến xác lập các mô hình có tính tương đối, chấp nhận các đan xen bất quy tắc của tồn tại, khiến cho thời gian, không gian, con người trong thơ Trương Đăng Dung có được sự linh hoạt (như nó vốn có). Ở đây, tôi chợt nhớ đến quan niệm của William Faulkner khi ông cho rằng, chính chiếc đồng hồ mới là kẻ cực đoan, cứng nhắc về thời gian – những bộ máy, những bánh xe tí hon, vận hành một cách máy móc, đã giết chết thời gian (Âm thanh và cuồng nộ). Còn, Trương Đăng Dung thì nhận thấy rằng: “Thời gian ở trong máu, không lời” (Anh không thấy thời gian trôi). Đó là thời gian nội tại, thời gian của chủ thể, gắn với “ý hướng tính”. Một khi, nắm được yếu tính của thời gian – luôn là hiện tại, việc xứ lí những dịch chuyển trong lịch sử, trong không gian thuộc về chủ thể. Điều đó mở ra cơ hội cho những kết nối xuyên lịch sử, liên/xuyên văn hoá. Kết quả của nó, như đã thấy, giúp cho hành trình đến với nhân loại – thực ra là trở về với bản thể của hiện hữu người được xác lập. Không phải ngẫu nhiên mà người đọc Châu Âu lại nhận ra những “quen thuộc” từ Những kỷ niệm tưởng tượng.

Không đánh đồng hoặc nhầm lẫn giữa tư tưởng triết học với tư tưởng thẩm mỹ - nghệ thuật, tôi cho rằng, Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung là một ví dụ khá cụ thể cho loại thơ có tư tưởng, thơ tư tưởng, thơ luận đề. Đúng hơn, sự kết hợp của trải nghiệm đời sống với kinh nghiệm siêu hình học đã cho phép nhà thơ đến được với vương quốc của tư tưởng nghệ thuật một cách thuyết phục. Không sử dụng hệ thống khái niệm, mệnh đề, không bắt thơ phải mang vác các quan điểm, tư tưởng triết học, thơ Trương Đăng Dung tự nó cất lời bằng chính nhịp điệu của hình ảnh, của tâm tưởng trong những xúc động sâu xa và thấm đượm tinh thần nhân văn. Bằng hệ thống ngôn từ được lựa chọn khá kỹ càng, công phu và luôn ắp đầy ưu tư, hiện diện chữ của Trương Đăng Dung có được tính chất sang trọng, ánh lên dáng dấp của một hình thái thơ triết học. Tôi cũng hình dung được rằng, niềm xúc động sâu xa với đời sống, nỗi bất an thường trực, sự lo lắng cho hiện hữu trong mỗi khoảnh khắc đã thăng hoa cùng với những đam mê siêu hình học. Dường như, thi sĩ triết gia này đã hợp nhất hai điểm nhìn: đời sống – triết học, để phục hoạt chân dung, trạng thái của hiện hữu. Hai góc nhìn vừa soát xét lẫn nhau, vừa bổ trợ cho nhau để tiếp cận được điểm cốt lõi nhất của đời sống, không – thời gian và con người. Nói cách khác, hiện tượng dưới cái nhìn của thi sĩ triết gia Trương Đăng Dung đã tự thuật về yếu tính của nó không hề (bị) che giấu. Nơi đó, chúng ta cảm nhận được cơ chế vận hành của tồn tại, sau lớp màn (M. Kundera) của các kinh nghiệm, các siêu diễn ngôn hay các tạo dựng khác từ lịch sử:

Những bức tường, những bức tường, những bức tường
có mặt khắp nơi
trong những lời vui đoàn tụ
trong những lời buồn chia tay
những bức tường ta không xây
những bước tường ta không thể phá…
Đêm đêm anh vẫn nghe lũ quạ
Cười nói huyên thuyên trên những bức tường này

(Những bức tường)

Tôi vẫn tin rằng, “giai tác tự bênh vực thi nhân” (Hạo Nhiên Nghiêm Toản). Bởi vậy, dù có thể thấy thấp thoáng bóng dáng của nhiều tư tưởng gia lỗi lạc thế giới trong thơ Trương Đăng Dung: A. Schopenhauer, E. Husserl, M. Heidegger, N. Kazantzaki, J. Sartre, A. Camus,… cùng các ý niệm triết học căn bản như: Sự bi quan, Ý hướng tính, Hữu thể và thời gian, Sự phi lý, các sự kiện hay bí tích tôn giáo – Kinh Thánh, các vấn đề của triết học ngôn ngữ,…  tôi vẫn lựa chọn trở về với những rung động thơ ca, nơi con chữ, hình ảnh, cấu trúc vẫy gọi, đánh thức trái tim con người. Chính tại đó, Trương Đăng Dung trở thành thi sĩ, không phải là triết gia hay nhà nghiên cứu lí thuyết:

Anh trở về với bến sông xưa
em không nhớ thời gian nước chảy
anh không biết những ngày thơ bé ấy.
Những giọt nước mắt qua má, qua môi
rơi xuống bàn tay nóng ấm hơi người.
Ta soi bóng.
Sông vẫn bình yên hát khúc vô tư
trời vẫn xanh như thế tự bao giờ
em toả sáng giữa đời anh lặng lẽ…

(Có thể)

Đời sống tự nó nói lên vẻ sinh động đến tận cùng mà không một triết gia, học thuyết nào có thể bao quát hết. Trương Đăng Dung hiểu điều đó cũng như ông hiểu sâu sắc sự khác biệt trong “yếu tính” của tư tưởng triết học và tư tưởng nghệ thuật, của hình thái thơ ca và siêu hình học. Để không tự lừa dối hay huyễn hoặc mình, Trương Đăng Dung đã lựa chọn tiếp cận sự vĩ đại (dù nó khốn cùng và thê thảm) của đời sống từ chính bản thân đời sống (với sự bổ trợ từ kinh nghiệm siêu hình học như đã nói ở trên). Có thể nhận ra, trong thế giới nghệ thuật của Trương Đăng Dung, hình ảnh người con gái, mái tóc, dáng đi, giọng nói, giọt nước mắt, nụ cười, bàn tay vẫy, góc vườn nhỏ, mái hiên nhà, bến sông xưa, chỗ ngồi cũ, vật chứng của một cuộc tình, thời gian của những chia li cách biệt, sự âu lo sợ hãi trước thế giới bạo tàn,… đã trở thành một trường thẩm mỹ khá riêng biệt. Ông vẫn nói với tôi rằng, thực ra, các khái niệm luôn đồng nhất, nhưng ở mỗi ngôn ngữ, mỗi cộng đồng, chúng được sử dụng khác nhau. Nếu thế, ở đây, thơ ca đã làm một cuộc “thanh tẩy” để cấp lại ý nghĩa cho triết học, trong vẻ sâu xa đầy xúc động của nghệ thuật ngôn từ:

Em đã đến
đẹp như ánh trăng
cô đơn như ngọn gió
chúng ta nằm trên cỏ
sợ hãi trước chân trời

(Chân trời)

Khác với nhiều nhà thơ khác, thường cố gắng bày tỏ cảm xúc, miêu tả hay kể lể, trường thẩm mỹ của Trương Đăng Dung tinh đọng hơn chính nhờ năng lực biểu tượng hoá, khái quát hoá. Năng lực này đã tinh giản các yếu tố không cần thiết, để thơ hiện ra nhẹ nhàng, thanh thoát, kiệm lời mà ý tình sâu kín, ắp đầy. Một điểm rất đáng lưu ý nữa trong tổ chức thế giới nghệ thuật của Trương Đăng Dung ở Những kỷ niệm tưởng tượng chính là ông luôn thường trực ý hướng đưa các bài thơ vào một chỉnh thể. Nếu đọc toàn bộ tập thơ, người đọc sẽ nhận ra, các bài thơ, vị trí của nó nói lên tư tưởng của tác giả về đời sống, về thơ ca, về ngôn ngữ. Mở đầu là “Anh không thấy thời gian trôi” kết thúc bằng “Thoả thuận” và “Tự bạch”. Ba mươi tám bài thơ tập trung xoáy vào các chủ đề: thời gian nội tại, cô đơn, bất an, sự phi lý, cái chết,… đã cho thấy sự tập trung cao độ của thi sĩ trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật của riêng mình. Điều đó, ở Việt Nam, không có nhiều người làm được (hoặc ý thức được).

Những kỷ niệm tưởng tượng, trên hành trình đi đến với những cộng đồng đọc rộng lớn hơn, vượt qua biên giới Việt Nam, đã cho thấy những khả năng của nó trong việc lan toả các giá trị thực. Hẳn nhiên, để được lựa chọn, bản thân Những kỷ niệm tưởng tượng cần phải đáp ứng các nhu cầu thẩm mỹ, tinh thần của cộng đồng chào đón nó. Giá trị thực của tưởng tượng thơ ca, không phải là một sự đối sánh để tạo ra sự tương phản, mà ở đó, chất thơ của hình ảnh, ngôn ngữ, cấu trúc, của tư tưởng thấm đẫm tinh thần nhân văn, hướng đến tồn tại người trong hoàn cảnh khủng hoảng các giá trị sâu sắc. Trong ý nghĩa đó, từ câu chuyện thơ ca, chúng ta lại hình dung ra hành trình xa hơn của tinh thần nhân loại, đi về phía sự sống, ánh sáng và cái đẹp.

Nguyễn Thanh Tâm

(T/c Thơ, số 5-6/2018)