Đã nhiều năm trực tiếp đứng lớp, tôi xin mạnh dạn nêu lên một số băn khoăn của tôi và các bạn đồng nghiệp tâm huyết với nghề ở Trường Quốc học Huế về chương trình văn học hiện đại nói chung và thơ hiện đại nói riêng đang được dạy ở bậc THPT hiện nay.

Trước hết là khái niệm văn học điện đại, thơ ca hiện đại, văn xuôi hiện đại. Hiện đại là mới mẻ, là có những thay đổi táo bạo, sâu sắc so với truyền thống, là bắt nhịp cùng với những thay đổi của thời đại. Người ta thường chia văn học thành ba thời là: Cổ đại, Trung đại và Hiện đại. Nhưng thời gian là vô cùng, vô tận. Cái mà ta gọi văn học hiện đại rồi trở thành quá khứ, rồi sẽ trở thành truyền thống. Vậy sau hiện đại là gì? Những đổi mới, cách tân sau này chẳng lẽ lại không thể gọi là hiện đại? Vậy nên theo chúng tôi cách gọi này chưa thật ổn. Cần lựa chọn cách gọi khác thích hợp hơn.

 Băn khoăn thứ hai của chúng tôi là thời điểm đánh dấu văn học hiện đại? Những người soạn sách giáo khoa lấy thời điểm đầu thế kỷ XX. Nhưng theo chúng tôi những năm đầu thế kỷ XX các nhà văn, nhà thơ đồng thời là các chiến sĩ cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn... chủ yếu vẫn viết theo thi pháp cổ. Mãi đến những năm 20 đầu thế kỷ mới có những đột phá: Văn có Nguyễn Ai Quốc, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn... thơ có Tản Đà, đúng như nhận định của Hoài Thanh “Tản Đà là người của hai thế kỷ” là cái cầu nối giữa thơ cũ và thơ mới. Riêng Tản Đà, vì vậy có thể xếp vào văn học trugn đại hay văn học hiện đại đều được. Nhưng Phan Bội Châu theo chúng tôi nên xếp vào văn học trung đại?

 Băn khoăn thứ ba của chúng tôi là về cách sắp xếp bố trí chương trình. Cách sắp xếp bố trí chương trình như hiện nay của phần văn học hiện đại có ưu thế làm rõ các giai đoạn văn học nhưng lại bất ổn trong việc giảng dạy các tác già tiêu biểu. Ví dụ đang dạy tác giả Hồ Chí Minh lại chen vào “tâm tư trong tù” của Tố Hữu, gây cảm giác chắp vá, lộn xộn. Để khắc phục tình trạng này chúng tôi đề xuất nên giảng chung phần khái quát văn học Việt Nam hiện đại. Không nên tách ra các giai đoạn vừa khỏi trùng lặp, lại vừa bảo đảm tính hệ thống trong khi giảng các tác giả tiêu biểu. Cách viết nên tinh gọn, phù hợp với trình độ học sinh ở bậc  THPT.

 Băn khoăn thứ tư của chúng tôi là cách tuyển chọn các tác phẩm thơ. Theo nhận xét của chúng tôi thì phần thơ lãng mạn tuyển chọn như thế là hợp lý. Chỉ tiếc bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư những năm trước có đưa vào chương trình sau đó không hiểu sao lại bị gạt ra? Trong khi “Tiếng thu” là một trong những bài giảng hứng thú nhất của rất nhiều thầy cô giáo dạy văn tâm huyết. Có thể nói, đây là một bài thơ hay và Lưu Trọng Lư cũng xứng đáng được đưa vào dạy vì ông là một trong những người có công đầu trong việc khởi xướng phong trào thơ mới. Phần thơ từ sau 1945 đến 1975 hầu hết là những bài thơ dài. Có bài quá dài như Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. Dài mà hay thì vẫn còn được. Nhưng dài mà không hay đưa vào giảng chỉ tội “tra tấn” thầy và trò. Đã thế, nội dung các bài thơ lại hao hao giống nhau cũng là tình yêu đối với quê hương, đất nước, nói đi nói lại đến mòn sáo. Do đó chúng tôi đề xuất: Nếu làm lại chương trình, ban tuyển chọn nên mạnh dạn bỏ bớt những bài quá dài và nộid ung trùng lặp thay vào những bài ngắn hơn hay hơn, đề tài phong phú hơn.

 Băn khoăn thứ năm của chúng tôi là phân phối thời gian. Hầu hết những bài thơ đưa vào chương trình đều được giảng trong một tiết (trừ “Tây tiến” của Quang Dũng và “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi). Phân phối như thế theo chúng tôi cũng chưa hợp lý. Ngắn hay dài không phải là căn cứ để phân bố thời gian. Có bài ngắn như “Tống biệt hành” giảng trong một tiết vẫn cảm thấy chưa đủ. Ngược lại, có bài dài nhưng tác giả đã nói hết rồi chẳng còn gì để giảng. Theo chúng tôi nên căn cứ vào vị trí của tác giả và chất lượng của tác phẩm để phân bố thời gian. “Thề non nước” và Tản Đà mà chỉ giảng trong 2 tiết thì không chỉ thiệt thòi cho học sinh, mà còn thiệt thòi cho nền văn học nước nhà. Vì vậy cần xem xét phân phối lại cho hợp lý hơn.

 Băn khoăn thứ sáu của chúng tôi là nội dung biên sọan sách hướng dẫn giảng dạy. Chúng tôi cho rằng sách hướng dẫn giảng dạy là cần thiết, nhất là trong tình hình chất lượng thầy cô giáo dạy. Văn không đồng đều. Mấy năm gần đây, sách hướng dẫn giảng dạy được biên soạn khá công phu. Nhưng công phu và đầy đủ quá lại không phải là điều tốt. Bởi biên soạn như vậy chẳng khác nào những người biên soạn đã soạn thay giáo viên. Chúng ta đang áp dụng phương pháp giảng dạy mới: Không áp đặt học sinh. Soạn công phu và kỹ lưỡng như vậy dễ dẫn đến tình trạng áp đặt cách tiếp cận cho giáo viên, không phát huy những suy nghĩ độc lập sáng tạo của thầy cô giáo. Có những gợi ý theo chúng tôi là chưa thật thoả đáng chẳng hạn gợi ý cách ngắt nhịp câu thơ: “Non cao tuổi/ vẫn chưa già”. Tôi đã có một bài viết về cách gợi ý này của sách hướng dẫn giảng dạy chỉ cần nêu ra mục đích, yêu cầu, xác định nội dung trọng tâm của chương trình là đủ.

Băn khoăn cuối cùng là những thắc mắc của học sinh mà chúng tôi chưa giải đáp được hoặc giải đáp chưa thật thỏa đáng. Xin được nêu ra đây một vài dẫn chứng. Chẳng hạn câu “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” thì “nhớ chơi vơi” có cần để trong ngoặc kép không vì Quang Dũng dùng lại cách nói của Hàn Mặc Tử trong bào thơ “Nhớ Trường Xuyên”: “Gió sương mờ mịt nhớ chơi vơi”. Hay tại sao “xuôi dòng nước lũ” mà hoa lại chỉ “đong đưa”? Hoặc hai câu thơ rất hay của Chế Lan Viên “Anh nhớ em như đông về nhớ rét/ Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng”. Cánh kiến hoa vàng là loại côn trùng cánh kiến với hoa vàng hay là cây cánh kiến hoa vàng? Tôi đã có cách lý giải riêng của mình và đã viết thành bài in trên báo Giáo dục và Thời đại nhưng vẫn cảm thấy chưa thật yên tâm. Vân vân và vân vân... Rất mong được các bạn đồng nghiệp, những người quan tâm đến công việc dạy văn và học văn cùng bàn bạc trao đổi.

Th.s Mai Văn Hoan