Lý ra thì nên đi thẳng vào chuyện Thơ. Nhưng cần liếc qua một đôi điều, cốt thống nhất khái niệm sao cho không ông nói gà bà nói vịt hoặc diễn ra cảnh trò chuyện giữa các ông điếc. Thảo luận thường là có thiện chí. Thế nhưng sau một hồi, bỗng cứ thấy như cần xắn tay áo lên. Biết là khi đó cần bình tĩnh. Nhưng làm cách gì để bình tĩnh? Chỉ khuyên nhủ mà kết quả thì đời này đã im tiếng súng! Cần cái kỹ thuật để đạt tới sự bình tĩnh khi thảo luận, đó là thống nhất cách dùng khái niệm.

Xin bạn hãy nhớ lại lời Bút Tre phê phán lối suy nghĩ phi khái niệm, như chuyện tiến lên hàng đầu... thì Hàng đầu là tiến đi đâu? Hàng đầu là tiến lên đầu chớ sao! Bút Tre cũng chưa to! Di sản dân gian từng phê phán người chỉ biết những điều hiển nhiên thay vì tư duy bằng khái niệm, từ chuyện hòn đá nứt đôi mà vặc nhau thế cái ấy của bu anh có bị phi thiên đả tắc lôi đả không, sao nó cũng nứt ra làm đôi?

Chỉ cần cảm tính, nhờ kinh nghiệm của giác quan, là đủ để biết những điều hiển nhiên. Nhưng quen một kiểu mắt nhìn thì giỏi bằng ông vua cũng không chấp nhận cái đèn treo ngược. Quen một kiểu tai nghe rồi, thì khó hiểu nổi cớ sao hạt mưa lại thành tiếng đàn và tiếng đàn lại thành ngón tay và ngón tay lại gõ nên tiếng mưa? Giác quan phân biệt nước, dấm và rượu được không? Nhìn và sờ chưa dẫn tới kết luận gì, nếm sẽ phân biệt khá chính xác. Duy nhất dùng khái niệm thì biết chắc nước là hợp chất của H và O, còn rượu và dấm là những kiểu kết hợp của những chuỗi CH. Và trời sẽ sụp với những ai quen nghĩ nước là nước, phi nhân tạo tắc thiên tạo nay biết nước là hợp chất của hai chất khí, chẳng những thế còn là khí rất dễ cháy nổ!

Sang chuyện bếp núc thơ, con người cũng chưa tiến bộ là bao. Người ta mới đạt tới chỗ thấy thơ là hay, thơ không thể thiếu với con người, thơ là đẹp vô cùng. Người thích triết học thì thấy thơ là cõi Thiền, trong khi nhà quảng cáo nhìn thơ trong tác dụng lối cuốn cổ vũ. Nghĩ thế không sai, nhưng hoàn toàn chưa đủ để hiểu thơ, mà nguyên nhân là do chỉ nhìn thơ (hoặc mọi sản phẩm khác) ở dạng sản phẩm cuối cùng. Chỉ nhìn sự vật ở trạng thái cuối cùng thì đàn con của lợn nái cũng hệt như đứa bé do người đàn bà ta yêu thương đã sinh ra với cả một quá trình sinh lý và tâm lý không thể có ở các loài khác.

Tâm lý học nghệ thuật khuyên chúng ta nếu thật sự muốn hiểu Thơ thì hãy nhìn thơ - và không chỉ thơ - ở trạng thái phát sinh như thế. Phát sinh ở đâu? Phát sinh trong tâm lý người làm thơ.

Nói đến cung cách phát sinh nghệ thuật, viện sĩ tâm lý học người Nga V.V. Davydov có viết đại ý thế này: thoạt kỳ thủy đã làm gì có cây đàn pianô? Thoạt kỳ thủy âm nhạc được sinh ra mà chưa có những nhạc cụ đắt giá như thế. Từ đó suy ra sẽ thấy rằng thoạt kỳ thủy con người chưa có những cách biểu đạt nghệ thuật bộc lộ tình cảm người của mình. Những siêu sao ngày nay gào rú trên sàn diễn lòe loẹt ánh sáng la-de thực ra cũng chỉ nhại lại những gào rú nguyên sơ (và cả cách ăn mặc nguyên sơ nữa) của cái thuở phát sinh âm nhạc chưa có dàn nhạc đệm. Bức họa của Văn Cao vẽ người thổi sáo với con mắt nằm xa bên ngoài khuôn mặt chẳng qua cũng chỉ nhắc lại cái thuở con người vẽ lên thành vách hang động những hình thù với mắt với sừng với đầu với đuôi không hẳn là đều nằm đúng chỗ theo đúng giải phẫu học. Còn thơ? Mãi sau này thì gái quê mới nghe Mình về ta chẳng cho về... và cũng xa hơn nữa gái tân thời mới nghe Nguyễn Bính tán nhà nàng cách nhà ta một giậu mùng tơi... chứ xưa kia chưa có ngôi Lời, thì chỉ có cái Giời cho sẵn, đôi mắt đắm đuối cùng cái vồ vập mì ăn liền...

Từ khởi thủy là cái nhu cầu biểu đạt tình cảm, trong đó có phương thức thơ. Vô vàn con người đã tham gia vào cuộc nói năng bằng thơ ấy, thoạt kỳ thủy thì vô thức, sau rồi dần dần có ý thức, và đến cái đận người làm thơ dường như ý thức được cõi vô thức của mình, thì đó đã là nhà thơ chuyên nghiệp. Nhà thơ chuyên nghiệp là kẻ chỉ có thể “sống” được bằng thơ. Xin hiểu “sống” đây không có nghĩa là có nhuận bút, hoặc được trợ cấp sáng tác. “Sống” bằng thơ nghĩa là anh ta chị ta sẽ héo hon và sẽ chết nếu ngừng “thở” bằng thơ. Chấp nhận thơ của họ hoặc khen chê là chuyện khác!

Tôi muốn chọn Dương Tường để nói tiếp ý kiến bên trên. Sao lại chọn tìm sự phát sinh thơ trong một con người như Dương Tường? Vì trong những người làm thơ đương đại vẫn được nhìn nhận là tuyên ngôn chủ nghĩa hiện đại hoặc chủ nghĩa hậu hiện đại như Đặng Đình Hưng, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Hưng, thì trường hợp Dương Tường dễ phân tích hơn cả. Xin khất vào dịp khác sẽ khám phá vào các bạn cùng dòng thơ ấy nhưng nằm ở lứa sau...

Dương Tường trước hết là một chàng trai từng học và đọc và yêu thơ thế hệ Verlaine, cái thơ từng là bầu sữa văn hóa cho thế hệ mình. Hãy nghe cách biểu đạt Dương Tường-Verlaine:

Thu rồi
           những bàn tay lá
                                    đứt
                                    máu
                                            hoen cây

(Thơ Dương Tường, Nxb Hải Phòng 1-2005 - Các câu dẫn Dương Tường từ đây đều từ cùng một nguồn)

Ngỡ đâu như mình vừa mới gặp lại đúng chàng Verlaine Từng chuỗi dài / nức nở / vĩ cầm thu / xói vào lòng ta / nỗi đau ròng / năm tháng...

Và gặp lại cả một thế hệ thương và yêu như một tín ngưỡng, thế hệ từng đi gom xác đồng bào năm Ất Dậu và rùng mình trước cực kỳ vô lý B52 rải thảm và những hằng ngày bom xe. Nỗi đau kiếp người trườn vào thế hệ Dương Tường đang nghe nhạc Wagner bỗng liên tưởng và nói thành lời của mình:

tất cả đều tủn mủn
chỉ riêng khổ đau là hoành tráng

Từ đó thật dễ hình dung vì sao Dương Tường có bài thơ chỉ mang một tứ thơ thoạt kỳ thủy là Tôi đứng về phe lâm thâm nước mắt những giờ vui, rồi cô đọng khổ đau rút lại chỉ còn Tôi đứng về phe nước mắt.

Chàng trai Dương Tường nhập vào dòng đời nhưng luôn luôn được một lớp thơ che chở ngăn cách anh với Thực Đời. Đời quá cũng khó có thơ, mà thiếu Đời cũng khó có thơ, may sao anh có cái Thơ Đời. Cả những phút hoang mang thơ cũng chỉ là sản phẩm của một tâm hồn xa Đời song là một cái nhìn quá trong trẻo vào lòng mình

ba mươi hai năm
ba mươi hai lối chân đưa
                                     lầm
                                      lũi
Thời gian như một cái nhìn vàng

Có lẽ vì thế mà Dương Tường có cách biểu đạt cực kỳ haiku, này đây bài anh viết ở thành phố Denver giữa miền sa mạc Trung Mỹ:

mặt trời Colorado
dậy sớm
đánh cắp của ta quà tuyết đêm qua

hoặc trong chiến tranh khi anh đi phiên dịch cho đoàn điều tra của Tòa án Bertrand Russell:

Mố cầu tư duy trừu tượng kiếp bê-tông
Bến trưởng che tay áo vô kỷ luật một mồi thuốc
Phà có mùi xe văn công vừa sang ngang 

nhưng trước sau như một những tâm tình vụt hiện vẫn là những tứ thơ tuyệt vời không xa là bao với dòng lãng mạn mẫu mực:

một thoáng rợn tên là heo may
một hương cây tên là kỷ niệm
một góc phố tên là hò hẹn
một nỗi nhớ tên là không tên

cũng như

Chiều se sẽ hương
Vườn se sẽ sương
Đường se sẽ quạnh
Trời se sẽ lạnh
Người se sẽ buồn

có khi như một phù điêu của ký ức thơ đầy chất hội họa mang tư duy siêu thực:

Có khi
mặt em
cấu trúc mưa

và chất nhạc không trốn đâu cho kín:

hồ môi thơ lã chã âm xưa
bản nháp chiều tơ liễu
đưa mưa

Căn cứ vào “thành tích” thơ Dương Tường, tôi hoàn toàn tin Dương Tường là một nhà thơ thực sự kéo dài chủ nghĩa lãng mạn và bổ sung cho nó bằng những ý tứ đương đại (những vụ việc đương thời với anh, như Bức Tường Việt Nam, như B.52, như đêm Nô-en anh lang thang và trong lòng nhớ lại những lúc ngồi nghe bạn chơi đàn, như con ngan què lạc vào trận địa pháo...).

Tôi thấy mình thầm cảm ơn Dương Tường khi đứng bên Bức Tường Việt Nam đã nói được tình cảm bao dung của anh và của người mình:

bởi lẽ mình với cậu
chưa hề biết nhau
                                          nên mình đến
bởi lẽ cậu bỏ lại mẹ cha cùng
người hôn ước
và mình cũng từng giã biệt vợ con
                                          nên mình đến
bởi lẽ tình yêu mạnh hơn thù hận
và có thể bắc cầu qua mọi đại dương
                                          nên mình đến
bởi lẽ cậu không trở lại
còn mình đã có ngày về 
                                          nên mình đến

Vẫn là người đứng về phe nước mắt đấy, mà dễ thương biết bao! Và cái rớm lãng mạn này thì giúp ta liên tưởng đến biết bao nhiêu điều trong đời này:

rớm xanh
lối em đi
em đi
còn
balcon rớm nắng
rớm ánh nhìn
mi cửa sổ
              rớm
bóng em để lại
em đi
              ngực nhụy
rớm hương
buồn tiền sử

***
và em lại đi
nắng rớm
chiều đào

Vì thế mà có thể nói nếu tiếng nói thơ là tình yêu thương chân thành và là cái Đạo cao nhất của con người, thì thậm chí thơ Dương Tường còn rất “chính trị” nữa, cái chính trị theo phong cách của nhà thơ, cái chính trị đứng về phe nước mắt, cái ý thức về những sự “rớm” nhấn đi nhấn lại.

Bạn sẽ hỏi: ô hay vậy đâu là chủ nghĩa hiện đại hoặc chủ nghĩa hậu hiện đại trong một dòng thơ Dương Tường như thế? Xin cho tôi nói thêm vài lời.

Thơ chưa bao giờ có “tuyên ngôn” hậu hiện đại như có người trích dẫn nhầm và không ghi xuất xứ. Có tổng kết lý luận về cổ điển, có tuyên ngôn siêu thực, có trào lưu nghệ thuật hiện đại, nhưng chưa có tuyên ngôn hiện đại và tuyên ngôn hậu hiện đại. Mọi chuyện còn đang diễn ra.

Chủ nghĩa cổ điển có đặc điểm là luật lệ. Thơ và phú cổ điển đều có niêm có luật, thơ Tây phải có vần và từng câu phải đủ “chân”. Kịch Tây có luật “ba điều không thay đổi”, còn đêm chèo tưởng lỏng lẻo, song thử thiếu một màn giáo đầu có được không? Luật biểu đạt nghệ thuật cổ điển buộc con người cá thể tuân theo truyền thống đó.

Thời “khai sáng” ở Tây, tầm nhìn của khoa học - kỹ thuật, tầm mắt viễn du viễn chinh, tầm “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” giải phóng lao động, dẫn tới cách biểu đạt lãng mạn. “Cách biểu đạt lãng mạn đến từ xung đột với những cung cách trưởng thành xa lạ với người nghệ sĩ, (...) đến từ cuộc đấu tranh với cái thế giới đã định hình do kẻ khác áp đặt cho đời” (André Malraux, Tiếng của lặng im, trang 279). Những sự cựa quậy hoặc chống chọi trong cách biểu đạt hậu cổ điển sẽ dẫn tới trào lưu nghệ thuật hiện đại mà dấu ấn rõ nét là tính cá nhân đã được hình thành và củng cố qua “chủ nghĩa lãng mạn”.   

Thế rồi có hậu hiện đại như một quan điểm, như một khái niệm, như một trào lưu đang hình thành. Tư trào hậu hiện đại lại lôi cuốn người sáng tạo nghệ thuật cá thể về lại với đám đông, về lại với những thơ ngây cao hơn nữa của con người. Cũng như vào tuổi thơ xưa của nhân loại, người sáng tác hậu hiện đại cũng là người biểu diễn. Chỗ khác nhau giữa một em bé đương thời và con người ở tuổi thơ của nhân loại là ở trình độ văn minh mới. Tác giả và công chúng thời hiện đại hoàn toàn có điều kiện cùng tham gia vào hoạt động sáng tạo nghệ thuật, đó là điều kiện vật chất của trào lưu hậu hiện đại. Những cuộc nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật sắp đặt, những đám đông chiếm cả một sân vận động để cùng hát cùng gào rú với người biểu diễn (tưởng như trong hang động xưa)... đó chỉ là vài gợi ý.

Thơ của Dương Tường cũng tham gia vào dòng đổi thay ấy. Nhưng anh tham gia theo cung cách e ấp của riêng mình. Cũng hệt như khi anh tham gia quân tình nguyện sang Lào, sau trận đánh, anh vẫn lủi thủi đi nhặt nhạnh sách trong đồn giặc. Xin bạn trở lại ý kiến tác giả đã nói từ phần bên trên, và hãy tự đặt câu hỏi để cùng sáng tác thơ với Dương Tường: ý thơ nào đã phát sinh trong tác giả và trong ta vào lúc đó? Và bạn sẽ nhấm nháp những lời ấp úng dễ thương này:

Em về phố lặng
lòng đổ chuông
llềnh lluềnh nước
lli
              lluâng
                          lloang llưng
lliêng llinh lluông buông boong
ad lllibitum

Xin cho nói lời cuối: đến với cách biểu đạt hậu hiện đại chỉ cần trang bị một vũ khí, đó là một đầu óc cởi mở. Việt Nam có thể là bạn của tất cả các nước, hà cớ gì trong lòng Việt Nam, hẹp hơn, trong lòng làng nghệ thuật Việt Nam, hẹp hơn nữa, trong lòng làng Thơ Việt Nam, lại không có nổi sự đánh bạn?

Chú thích quan trọng, đánh bạn là một từ, không phải hai từ đâu đấy! 

Phạm Toàn